Sơ lược giới tỳ kheo Ni và Tăng
21/8/2023
Pháp thoại Sơ lược giới tỳ kheo được Thầy Thích Thiện Thuận thuyết giang vào ngày 07/06/2023 tại Trường hạ Vạn Thiện (Vạn Hạnh, Phú Mỹ, BRVT)
Xem thêm: 5 giới căn bản của người phật tử tại gia
Ghi sau khi duyệt Tỳ kheo Giới
Tập tục giữa Ấn, Tàu với ta khác nhau nhiều lắm. Xưa và nay càng khác hơn. Phật giáo cũng vậy. Nên muốn hiểu luật thì phải biết những cái khác đó, kể cả cái khác giữa Bắc tông với Nam tông.
Hãy nói vài ví dụ nhỏ nhặt. Tập tục khác nhau như Ấn ăn bốc, không biết như vậy thì không hiểu được giới 40 (trong 100 giới học) với ghi chú ăn không được một nửa vào miệng, một nửa còn nơi tay. Xưa nay khác nhau như rửa tay sau khi đại tiện thì xưa dùng đất, tro, bồ hòn, bồ kết, nay thì xà phòng. Ấy là chưa nói bao nhiêu cái khác, lớn có nhỏ có, giữa xưa và nay, giữa 2 tông Bắc Nam. Có những cái bây giờ khác hẳn rồi, thí dụ nói về ngọa cụ và tọa cụ.
Chỉ nói bấy nhiêu thôi cũng đủ thấy ngày nay Tỳ kheo giới có một ít giới điều không còn nói đến nữa. Thế nhưng ngày nay lại có bao nhiêu cái mà Tỳ kheo giới đã không qui định trước được. Thí dụ sự học hành, sự giao tiếp… Chỉ sự giao tiếp mà thôi, mà bao nhiêu điều thích ứng hoặc phản ứng đã phải đặt ra. Chưa nói ăn mặc ở, ba sự ấy có bao nhiêu là xáo trộn mà tiện lợi có, khó xử có.
Mấy lời ghi trên đây đi đến kết luận gì? Kết luận ở chỗ phải nhớ luôn đến cái chủ ý của Tỳ kheo giới. Chủ ý đó là muốn Tỳ kheo phải là bậc Chúng trung tôn, thân miệng ý, cả ba nghiệp ấy đừng có những tội lỗi và cử động bất xứng, nghĩa là cụ túc giới pháp và oai nghi. Rồi từ chủ ý đó, phải có những sự hạn chế (giá) và linh động (khai) mà sao cho như “liên hoa bất trước thủy”, “sự lai tâm hiện, sự khứ tâm không”.
Làm như vậy với ý thức và hậu quả là Tỳ kheo giữ được bản sắc của mình, của Phật giáo mình — không để đời không có mình cũng được, hay mình cũng như đời mà thôi. Nói cách khác, Tỳ kheo không tự cao nhưng không tục hóa. Giới luật còn thì Phật pháp còn là như thế này đây.
Mồng 10 tháng 5, PL. 2537 Trí Quang
I. Dẫn Nhập Tỳ kheo Giới của Tứ Phần Luật
(I.1)
Phật lịch 2518, tôi đã đọc tất cả 5 bộ luật của Phật giáo văn hệ Trung hoa, gọi tắt và ghi theo số hiệu của Đại tạng kinh bản Đại chính thì 1421 là Ngũ phần, 1425 là Tăng kỳ, 1428 là Tứ phần, 1435 là Thập tụng, 1442 là Hữu bộ. Ngoài ra, 1462 là Thiện kiến tuy không trọn vẹn mà rất đáng đọc.
Thế giới Phật giáo thông sử (tập 1 trang 54) nói Tăng kỳ là của Đại chúng bộ, Ngũ phần là của Hóa địa bộ, Tứ phần là của Pháp tạng bộ, Thập tụng là của Hữu bộ Ma-du-la, Hữu bộ là của Hữu bộ Ca-thấp-di-la.
Muốn biết giữa 5 bộ luật như thế nào thì sơ khởi hãy đem giới bản của 5 bộ ra mà so sánh chút ít. Tỳ kheo giới có 8 loại: 1 là khí, 2 là tăng tàn, 3 là bất định, 4 là xả đọa, 5 là đọa, 6 là hối quá, 7 là học pháp, 8 là diệt tránh. Trong 8 loại này, chỉ có 2 loại 5 và 7 là 5 bộ khác nhau: loại 5 thì Tứ phần, Thập tụng và Hữu bộ đều có 90, Ngũ phần có 91, Tăng kỳ có 92; còn loại 7 thì Ngũ phần và Tứ phần có 100, Tăng-kỳ (Ma-ha-tăng-kỳ, Mahasaghika) có 66, Thập tụng có 113, Hữu bộ có 42. Nhìn đại khái, giới điều quan trọng thì 5 bộ như nhau, giới điều linh tinh mới khác nhau. Nhìn thêm chút nữa, giới bản của Tăng-kỳ, Ngũ phần và Thập tụng thì lời kệ mở đầu và kết thúc đều như nhau, chỉ Tứ phần với Hữu bộ mới khác nhau. Xét văn tự thì Tứ phần có chậm nhất, xét bộ phái thì Tăng-kỳ có sớm nhất. Theo ngài Pháp hiển ghi thì “luật Tăng-kỳ này khi Phật tại thế được đại chúng đầu tiên tuân hành, được lưu truyền tại tinh xá Kỳ-hoàn”.
Tôi suy đoán rằng Thượng tọa bộ có 1 bộ luật là bộ được tụng ra trong Đại hội 1 của Kiết tập 1. Rồi bộ này được khẩu truyền mà học thuộc lòng cho đến chép ra văn bản là các bộ luật của các bộ phái khác. Riêng bộ Tăng-kỳ của Đại chúng bộ có thể được tụng ra trong Đại hội 2 của Kiết tập 1, nhưng cũng có thể chỉ là thuộc lòng bộ luật của Đại hội 1. Thế giới Phật giáo thông sử (tập 1 trang 55) nói bộ luật này là của Thượng tọa bộ căn bản, nay không tìm được. Bộ luật của Paly là của hệ Phân biệt thuyết, thiên về Đại chúng bộ, có sau cả luật Tăng-kỳ.
Trên đây là nói 2 bộ luật của 2 bộ gốc là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Còn lại 4 bộ Ngũ phần, Thập tụng, Tứ phần và Hữu bộ thì toàn là hệ Thượng tọa bộ cả. Ít ra, chính trong những bộ luật hiện còn mà thấy đại thể giới pháp có thể nói là khá nhất vị.
(I.2)
Tứ phần luật gọi đủ là “Đàm-mô-đức tứ phần luật”. Đàm-mô-đức (Dharmagupta) dịch nghĩa là Pháp tạng hay Pháp hộ, tên của bộ chủ Pháp tạng bộ. Theo Dị tông luận thì Pháp tạng bộ là thứ 9 trong hệ Thượng tọa bộ, xuất từ Hóa địa bộ và có trong bách kỷ 3 sau Phật nhập diệt. Luận ấy còn ghi thêm: những học thuyết của Pháp tạng bộ đa số lại đồng nhất với Đại chúng bộ. Ngài Khuy cơ còn ghi Pháp tạng bộ nói có 5 pháp tạng: kinh, luật, luận, minh chú, bồ-tát. Tương truyền ngài Pháp tạng là 1 trong 5 đệ tử của tôn giả Ưu-ba-cúc-đa.
Trung hoa thì đời Đường sắp đi, do ngài Đạo tuyên khởi lập, Luật tông lấy Tứ phần luật làm căn bản. Lý do vì sao lựa chọn như vậy thì tôi thật chưa rõ, vì chưa đọc đến các bộ sách quan trọng của ngài Đạo tuyên viết về Tứ phần luật, dựng lên Luật tông có học thuyết đàng hoàng. Việc tôi có ý nguyện làm từ lâu là dịch Tỳ kheo giới bản của Tứ phần luật và làm những gì liên hệ đến giới bản ấy. Trong ý nguyện ấy, hôm nay tôi làm một phần của phần việc thứ nhất.
Tỳ kheo giới bản cũng gọi là Giới kinh. Giới kinh ở đây có lúc chỉ cho Tứ phần luật, có lúc chỉ cho Tỳ kheo giới bản của Tứ phần luật, quan trọng hơn nữa có lúc chỉ cho các bài tụng của 7 đức Phật (7 đức Phật có 7 bài tụng là có 7 bản Giới kinh). Riêng đức Bổn sư Thích ca thì 12 năm đầu của thì gian giáo hóa, Giới kinh chính là bài tụng được dịch ra 12 câu. Giới kinh này là cho chư tăng vô sự. Sau 12 năm mới có chư tăng hữu sự, tùy sự chế giới, thành ra Giới kinh có 250 giới nói theo Tứ phần luật.
Tỳ kheo giới bản của Tứ phần luật kể như có 4 bản. Bản 1 là Tứ phần luật Tỳ kheo hàm chú giới bản, số hiệu 1806 của Đại tạng kinh bản Đại chính, sẽ được gọi tắt là bản Đạo tuyên. Ngài Đạo tuyên, vị khai lập Luật tông Tứ phần luật, đã biên tập và lược giải giới bản Tỳ kheo của Tứ phần luật, với phong cách một vị tổ sư. Tôi quí và tin bản này nhất, không những lấy làm chính văn mà còn lấy làm tài liệu chính để hiểu và ghi chú chính văn.
Bản 2 có tên Tân san định Tứ phần tăng giới bản, cũng của ngài Đạo tuyên. Bản này nằm trong Vạn 61/267-279. Dầu có bản này, so sánh, tôi vẫn chọn bản 1 làm chính văn.
Bản 3 là Tứ phần luật Tỳ kheo giới bản, do ngài Hoài tố biên tập, số hiệu 1429 của Đại tạng kinh bản Đại chính, sẽ được gọi tắt là bản Hoài tố. Còn bản 4 là Tứ phần tăng giới bản, mang số hiệu 1430 của Đại tạng kinh bản Đại chính.
Bản dịch của tôi lấy bản Đạo tuyên làm chính văn. Nhưng chính văn ấy đến loại 7 và loại 8, tức 100 học pháp và 7 diệt tránh, thì lấy bản Hoài tố. Lý do là vì tên của 2 loại này tuy mục lục bản Đạo tuyên có ghi, nhưng chính văn bản ấy không ghi đầy đủ như 6 loại trước. Tên ấy tôi cũng không thấy cần thiết nữa, nên quyết định lấy chính văn bản Hoài tố, ở đấy không ghi tên hay số gì cả, số là của bản Đạo tuyên.
Cũng xin ghi rõ là trong khi dịch, các bản dịch của các hòa thượng Trí thủ và Thiện hòa cũng được tham khảo rất nhiều.
Nên nói thêm về tên giới điều. Trong 8 loại 250 giới, 6 loại đầu có 143 giới thì tên được dịch cả, còn 2 loại 7 và 8 có 107 giới thì, như mới nói, bản Đạo tuyên không ghi đầy đủ nên tôi cũng không dịch. Nhưng điều đáng nói là có ý kiến cho rằng tên giới điều không nên tư vào chính văn giới điều. Nay tôi xét thấy có lắm chỗ chính tên giới điều làm cho giới điều rõ hơn lên, chưa kể cái tên làm cho giới điều như được nói tắt, nói ý chính. Chính sự xét thấy này mà thấy 6 loại trước cần tư tên, còn 2 loại sau sự ấy không cần thiết nữa.
Trong khi dịch tôi vấp 1 chữ. Ấy là chữ “thời”. Có không dưới 10 chữ. Chữ quan trọng và khó hiểu nhất là ở đoạn kết thúc 13 giới tăng tàn. Dò các bộ luật khác thấy Ngũ phần và Thập tụng viết “thị pháp ưng nhĩ” (giới này phải thế), Tăng-kỳ viết “thị sự pháp nhĩ” (việc này là thế đấy), Hữu bộ viết “thử thị xuất tội pháp” (đó là cách giải tội). Như vậy chữ “thời” có thể hiểu là trường hợp. “Thị vị thời” đã được dịch “đó là trường hợp này”. Những chữ “thời” sau đó đại khái cũng được dịch là “trường hợp” cả.
(I.3)
Tỳ kheo giới của Tứ phần luật có 250 giới điều, tự chia ra 8 loại, nhắc lại, 8 loại ấy là: một, khí, có 4; hai, tăng tàn, có 13; ba, bất định, có 4; bốn, xả đọa, có 30; năm, đọa, có 90; sáu, hối quá, có 4; bảy, học pháp, có 100; tám, diệt tránh, có 7. Có ý kiến nói loại 8 không phải là giới. Nói như vậy xét ra không chính xác. Loại 8 cũng là giới điều, ở chỗ mỗi giới điều được lập ra do mỗi trường hợp khác nhau, thêm nữa, khi thi hành mỗi giới điều hay nhiều giới điều này rồi mà ai ngoan cố thì bị nghiêm trị hơn nữa.
Nay đem 8 loại 250 giới mà xét chung thì thấy có thể chia ra 3 loại. Loại một, là những giới điều phạm vào thì mất tư cách Tỳ kheo, không còn sám hối hay giải tội gì mà cứu vãn được nữa. Loại hai là những giới điều mà phạm vào thì tư cách Tỳ kheo chỉ còn một chút sống thừa, phải được cử tội, xử tội và giải tội bởi 20 vị Tỳ kheo là ít nhất mới mong cứu vãn. Loại ba đến loại tám là những giới điều chỉ cần được cử tội, xử tội và giải tội bởi 10 cho đến 1 vị Tỳ kheo là tư cách Tỳ kheo được cứu vãn.
Dầu phân loại như vậy mà 250 giới vẫn chưa mất cái cảm giác vụn vặt, mênh mang, nên nay tôi gặp loại là qui nạp lại, thì 250 giới có thể qui nạp như sau. Trong sự qui nạp này nên chú ý mấy chi tiết. Chi tiết 1 là đánh số giới điều, tức 1/1 là giới 1 của loại 1, cho đến 8/7 là giới 7 của loại 8. Chi tiết 2 là các mục qui nạp thì gặp loại là qui nạp, chứ không có thứ tự hay chính yếu thứ yếu gì ở đây. Chi tiết 3 là những mục ít giới điều thì gọi chung là linh tinh, nhưng có những mục chỉ có 1 giới điều mà vẫn để riêng vì tính cách quan trọng giới điều ấy.
Dưới đây là qui nạp 250 giới điều.
– Liên hệ đến dâm: 1/1, 2/1, 2/2, 2/3, 2/4, 2/5, 3/1, 3/2.
– Liên hệ đến đạo: 1/2, 4/30.
– Liên hệ đến sát: 1/3, 5/19, 5/61, 5/62.
– Liên hệ đến vọng: 1/4, 2/8, 2/9, 5/1, 5/2, 5/3, 5/7, 5/8, 5/12, 5/13, 5/68, 5/80.
– Liên hệ đến y: 4/1, 4/2, 4/3, 4/4, 4/5, 4/6, 4/7, 4/8, 4/9, 4/10, 4/23, 4/24, 4/27, 4/28, 4/29, 5/60, 5/88, 5/89, 5/90, 7/1, 7/2.
– Liên hệ đến cụ: 4/11, 4/12, 4/13, 4/14, 4/15, 4/16, 4/17, 5/87.
– Liên hệ đến việc học Luật: 5/71, 5/72, 5/73, 5/75, 5/76.
– Liên hệ đến Phật: 7/60, 7/61, 7/62, 7/63, 7/64, 7/65, 7/66, 7/67, 7/68, 7/69, 7/70, 7/71, 7/72, 7/73, 7/74, 7/75, 7/76, 7/77, 7/78, 7/79, 7/80, 7/81, 7/82, 7/83, 7/84, 7/85.
– Liên hệ đến sự ăn: 5/31, 5/32, 5/33, 5/34, 5/35, 5/37, 5/38, 5/39, 5/40, 5/41, 5/42, 6/1, 6/2, 6/3, 6/4, 7/26, 7/27, 7/28, 7/29, 7/30, 7/31, 7/32, 7/33, 7/34, 7/35, 7/36, 7/37, 7/38, 7/39, 7/40, 7/41, 7/42, 7/43, 7/44, 7/45, 7/46.
– Liên hệ đến tín đồ: 2/12, 7/3, 7/4, 7/5, 7/6, 7/7, 7/8, 7/9, 7/10, 7/11, 7/12, 7/13, 7/14, 7/15, 7/16, 7/17, 7/18, 7/19, 7/20, 7/21, 7/22, 7/23, 7/24, 7/25, 7/48.
– Liên hệ đến sự diệt tránh: 8/1, 8/2, 8/3, 8/4, 8/5, 8/6, 8/7.
– Liên hệ đến sự thuyết pháp: 7/52, 7/53, 7/54, 7/55, 7/56, 7/57, 7/58, 7/59, 7/86, 7/87, 7/88, 7/89, 7/90, 7/91, 7/92, 7/96, 7/97, 7/98, 7/99, 7/100.
– Liên hệ đến Tỳ kheo ni: 5/21, 5/22, 5/23, 5/24, 5/25, 5/26, 5/27, 5/28, 5/29.
– Liên hệ đến nữ nhân: 5/4, 5/9, 5/30, 5/43, 5/44, 5/45.
– Liên hệ đến sự cư xử trong chư tăng với nhau: 4/25, 5/14, 5/15, 5/16, 5/17, 5/36, 5/46, 5/53, 5/55, 5/58, 5/59, 5/63, 5/64, 5/66, 5/69, 5/70, 5/74, 5/77, 5/78, 5/79.
– Liên hệ đến rượu: 5/51.
– Liên hệ đến người chưa thọ đại giới: 5/5, 5/6, 5/65.
– Liên hệ đến sự phá tăng: 2/10, 2/11.
– Liên hệ đến sự ngoan cố: 2/13, 5/54.
– Liên hệ đến bát: 4/21, 4/22, 7/95.
– Linh tinh:
của và của báu: 4/18, 4/19, 4/20, 5/82; làm phòng nhà: 2/6, 2/7, 5/20; thuốc: 4/26, 5/47; đào đất: 5/10; chặt cây: 5/11; giường nằm: 5/18; 5/84, 5/85; đùa giỡn: 5/52, 7/93, 7/94; đốt lửa: 5/57; quân đội: 5/48, 5/49, 5/50; giặc: 5/67; vua: 5/81; đi không phải lúc: 5/83; làm ống kim: 5/86; tắm: 5/56; vệ sinh: 7/47, 7/49, 7/50, 7/51.
Nếu qui nạp lại lần nữa thì 250 giới chỉ thuộc vào 2 loại mà thôi, ấy là loại giới luật và loại oai nghi. Loại giới luật là những giới điều cấm tội lỗi thật sự. Loại oai nghi là những giới điều cấm cử động bất xứng. Trong 8 loại của 250 giới, loại 1 là giới luật, loại 7 là oai nghi, còn lại là cả hai.
(I.4)
Cuộc đời như cuộc đời của Phật, nếu có ký sự thì ký sự ấy lượng và chất phải đạt đến tầm cỡ bậc nhất nhì. Thế nhưng ký sự ấy chỉ nằm rải rác trong các kinh luật. Chỉ có một cạnh khía ký sự rất rõ rệt. Đó là sự sinh hoạt giới luật của Phật và chư tăng của Ngài. Sinh hoạt giới luật, từ ngữ này muốn nói sinh hoạt của Phật và chư tăng của Ngài thì toàn bộ là nhắm vào cuộc sống viễn ly ác pháp. Cạnh khía này luật tạng của bộ phái nào cũng là bộ ký sự khá về lượng cũng như chất.
Chư tăng của Phật trong 12 năm đầu gọi là “Vô sự Tỳ kheo”: Tỳ kheo không có gì rắc rối cả. Giới luật cho chư tăng thì gian này chỉ là bài tụng mà có thể nói vắn tắt là giữ sạch thân miệng ý. Sau 12 năm mới có kẻ hữu sự, mới có rắc rối. Rắc rối nhất là cái nhóm 6 người gọi là “lục quần Tỳ kheo”. Rồi tùy trường hợp rắc rối xảy ra mà có sự qui định ứng phó lại. Mỗi lần ứng phó là thành một giới điều. Như vậy cái số lượng 250 giới điều không phải nhiều nhiệc gì đối với tập thể mà thường xuyên đã có cả ngàn, lại trải qua thì gian ba bốn chục thập kỷ. Nhìn như thế này thì không những thấy 250 không nhiều, mà còn nhìn thấy cái phàm trong cái thánh của chư tăng thời Phật, cái phàm chẳng phàm gì nhiều và nặng.
Giới điều tuy nhiều, mỗi giới điều lại có khai giá (linh động và hạn chế), nhưng căn bản của giới luật chỉ là thiểu dục tri túc. Thiểu dục là ít ham muốn đối với những gì chưa có. Tri túc là biết vừa đủ đối những gì đã có. Có thiểu dục tri túc thì không phạm giới. Giữ giới có nghĩa là thiểu dục tri túc chứ không gì khác.
Nhưng Tỳ kheo giới được truyền thọ như thế nào? Tỳ kheo giới được truyền thọ, và lãnh thọ, giữa người sống với người sống, người sống mà phải hiện diện mới đúng phép. Số người hiện diện truyền thọ thường gọi là thập sư. Nghĩa là phải có 10 vị Tỳ kheo hiện diện thì việc truyền thọ Tỳ kheo giới mới thành tựu. Qui định này cho thấy Tỳ kheo giới khi được lãnh thọ rồi thì sẽ được và phải được hộ trì, giám sát, được cử tội, xử tội và giải tội bởi chính những vị Tỳ kheo khác mà trong đó có các vị thầy đã truyền thọ.
Không những thọ giới và trì giới dựa trên cái lực của các vị thầy hiện diện, mà sự sám hối khi phạm giới lại càng là như vậy. Phạm giới Tỳ kheo thì tùy giới đã phạm mà sám hối trước 1 cho đến 20 vị Tỳ kheo khác, nghĩa là cũng người hiện diện đối với người hiện diện chứ không phải khơi khơi mà được.
Thêm nữa, Luật không cho sa-di đọc Tỳ kheo giới trước khi được thọ giới ấy. Vì thẩm định sa-di có hay không có tư cách thọ và trì Tỳ kheo giới thì không phải sa-di tự thẩm định. Mà trách nhiệm là vị thầy. Vị thầy phải giáo dục cho sa-di có tư cách thọ và trì Tỳ kheo giới, và thẩm định tư cách ấy. Không phải sa-di tự coi Tỳ kheo giới, tự cho mình có tư cách thọ và trì giới ấy mà được. Do vậy, không ở đâu mà cái nghĩa thầy trò được nói cho bằng trong luật. “Hòa thượng tự nhiên sinh tâm thương nhớ đệ tử như con, đệ tử tự nhiên sinh tâm kính trọng hòa thượng như cha, siêng năng dạy bảo, lại thêm tôn kính, thì có khả năng làm cho Phật pháp rộng thêm, làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài” (Ngũ phần, Chính 22/110).
Ngày nay có cái hiện tượng suy đồi, ấy là thọ giới rồi là rồi, thầy không còn biết đến trò, trò chẳng còn biết đến thầy. Đôi bên chẳng còn vương vấn gì đến nhau, không còn mà cũng không muốn giữ một trách nhiệm gì với nhau. Trong khi thọ Tỳ kheo giới là con người được sinh ra một lần nữa, sinh ra giới thân tuệ mạng. Ấy vậy mà không mấy ai lấy làm quan trọng sự được sinh ra ấy cả.
(I.5)
Tỳ kheo giới với Bồ-tát giới có tương quan không, và tương quan thì như thế nào? Hãy đem 2 giới bản Tỳ kheo của Tứ phần và Bồ-tát của Phạn võng mà xét thì thấy có những điều đáng nói sau đây.
Một, Tỳ kheo giới truyền thọ do người hiện diện cả. Kiết-ma đắc giới là tăng Kiết-ma. Rồi nếu phạm giới thì cử tội, xử tội và giải tội đều là tăng Kiết-ma. Sám hối cũng là đối với tăng hiện diện. Bồ-tát giới thì cần nhất là vị thầy vừa là giáo thọ vừa là hòa thượng, còn Kiết-ma đắc giới là tác bạch thập phương chư Phật Bồ-tát, nhưng sám hối thì cực kỳ khó khăn.
Hai, Bồ-tát giới lấy sự phát bồ-đề tâm làm căn bản. Có bồ-đề tâm thì có đủ giới pháp, mất bồ-đề tâm thì giới pháp không những dễ vi phạm, mà có giữ cũng không có ý nghĩa vì vô thượng bồ-đề mà giữ. Tỳ kheo giới thì tách rời tất cả thân nghiệp và ngữ nghiệp cần tách rời (Câu xá, Chính 29/73), nên thân và miệng mà tội lỗi hay bất xứng thì đã là phạm giới.
Ba, Tỳ kheo giới thì người lãnh thọ bị khảo sát giá nạn rất kỹ: phải là người mà quá khứ, bề trong, bề ngoài và hoàn cảnh đều tương đối coi được mới được thọ giới. Bồ-tát giới không cần đến như vậy, bởi vì trừ Tỳ kheo Bồ-tát giới là tăng bảo, mọi bề ngoài tôn nghiêm đã phải có khi thọ Tỳ kheo giới rồi, còn mọi người ai cũng có thể được thọ cái giới pháp bản nguyên thanh tịnh của mình, miễn là có thể phát bồ-đề tâm và hiểu được tiếng nói của vị thầy truyền giới.
Bốn, Tỳ kheo giới có cái lý do giữ giới là để tránh đời chê ghét (tị thế cơ hiềm). Chính cái lý do này là cái phần lợi tha của Bồ-tát giới. Và chính trong ý nghĩa này mà nói là giáo hóa chúng sinh, mà nói là duy trì Phật pháp.
(I.6)
Điều phải nói ở đây là sự “phá tăng”. Phá tăng là phá Kiết-ma tăng và phá pháp luân tăng. Phá Kiết-ma tăng là dầu chỉ có 4 vị Tỳ kheo mà 1 người không đồng chúng hòa hợp hay tập hợp, thì sự Kiết-ma bất thành, mọi tăng sự, kể cả sự thuyết giới, đều không thể cử hành. Phá pháp luân tăng là dầu chỉ có 9 Tỳ kheo mà 1 người đứng ra chia rẽ, kéo theo mình 4 người (để đủ số Tỳ kheo làm Kiết-ma) rồi tự xưng giáo chủ, xướng ra giáo pháp và lập ra giáo đoàn riêng, nói cách khác là biệt lập Phật giáo riêng (hay khuynh đảo tổ chức của Phật giáo làm thành tổ chức của mình).
Phá tăng, như vậy, là phá hoại Phật giáo. Theo tôn giả Thế thân, loại tội nặng nhất là 5 tội vô gián, trong 5 tội ấy tội phá tăng, nhất là phá pháp luân tăng, là tội nặng nhất, vì “thương tổn pháp thân của Phật”. Phá tăng như vậy bản thể là cuồng ngữ. Kẻ phá tăng phải là Tỳ kheo, không phải tại gia hay Tỳ kheo ni mà làm được, là kẻ tịnh hạnh chứ không phải người phạm giới, bởi vì phạm giới thì nói không uy tín (Câu xá, Chính 29/93).
Tôn giả Thế thân nói còn thiếu một điều, ấy là những kẻ này hay lợi dụng chính quyền hoặc để cho chính quyền lợi dụng. Kẻ ấy, xưa kia, thời Phật là Đề-bà. Ngày nay, thừa kế Đề-bà cũng không phải thiếu người. Và cái tội phá tăng nặng đến nỗi phạm vào thì hết còn nói đến thọ giới trì giới gì nữa. Ấy thế nhưng có điều lạ là Tỳ kheo giới cũng như Bồ-tát giới đều đã không nghiêm khắc đúng mức về tội này.
Bồ-tát giới thì những gì liên quan đến sự phá tăng, thí dụ các điều 47 và 48, chỉ để vào loại giới pháp nhẹ. Tỳ kheo giới thì như các điều 2/10 và 2/11, chỉ xếp vào loại tăng tàn, mặc dầu trường hợp có ra 2 giới điều ấy là chính sự phá tăng của Đề bà.
Ngày trước, khi dịch giải Bồ-tát giới Phạn võng, tôi đã muốn nêu điều này lên. Nhưng rồi lúc đó tôi không làm. Nay nêu lên điều này không phải như một nghi vấn, mà là sự phá tăng ngày nay có chứ không phải không có, vậy mà giới pháp không lên án đúng mức thì làm sao cảnh tỉnh những kẻ Đề-bà mới, những kẻ tùng đảng với Đề-bà mới?
II. Phần đầu Tỳ kheo Giới
Cúi đầu kính lạy chư Phật, Phật pháp và Tỳ kheo tăng. Nay tụng Giới kinh (1) là để làm cho Phật pháp thường còn.
Giới như biển cả không có bờ mé, lại như ngọc báu cầu hoài không chán.
Muốn giữ tài sản của các Thánh giả (2) đại chúng họp lại nghe tôi tụng Giới.
Muốn trừ bốn thứ gọi là tội khí, muốn diệt mười ba tội lỗi tăng tàn, muốn ngăn ba mươi tội lỗi xả đọa (3), đại chúng họp lại nghe tôi tụng Giới.
Đức Tỳ-bà-thi, cùng đức Thi-khí, đức Tỳ-xá-phù, đức Câu-lưu-tôn, đức Câu-na-hàm, cùng đức Ca-diếp và đức Thích-ca, chư Phật như vậy đã thuyết Giới kinh (4) .
Nay tôi tụng lại Giới kinh như vậy, đại chúng cùng nghe.
Ví như có người chân đã thương tổn thì không thể nào tự đi đến đâu, người nào phá giới thì cũng như vậy không thể sinh trong chư thiên nhân loại.
Muốn sinh chư thiên hay sinh nhân loại, thì phải giữ lấy đôi chân giới pháp, đừng để có điều vi phạm thương tổn.
Như người đánh xe đi vào đường hiểm thì lo xe ấy rơi chốt gãy trục, người mà phá giới thì cũng như vậy, đối diện cái chết lòng đầy lo sợ.
Như người soi gương thấy đẹp thì thích thấy xấu thì rầu,
tụng giới cũng vậy giới toàn thì mừng giới hỏng thì lo. Hai quân đánh nhau ai gan thì tiến ai khiếp thì thoái, tụng giới cũng vậy trong sạch: yên tâm dơ bẩn: lo sợ.
Trong cả mọi người vua là hơn hết, trong các dòng nước biển là hơn hết, trong các sao đêm trăng là hơn hết, trong các vị thánh Phật là hơn hết, trong các giới luật (5) Giới kinh hơn hết, nên đức Thế tôn đã qui định rằng cứ mỗi nửa tháng phải tụng một lần.
Tăng hòa hợp (6) không? Đáp: tăng hòa hợp.
Tăng tập hợp chưa? Đáp: tăng tập hợp.
Người chưa thọ đại giới đã ra chưa? Nếu có thì bảo ra và đáp: người chưa thọ đại giới đã ra; nếu không thì đáp: trong đây không có người chưa thọ đại giới.
Các vị Tỳ kheo không đến đây có nói dữ dục và thanh tịnh (7) không? Nếu có thì đáp có và thưa đúng cách, nếu không thì đáp trong đây không có người nói dữ dục và thanh tịnh.
Chúng Tỳ kheo ni phái ai đến? Nếu có thì đáp có và thưa đúng cách, nếu không thì đáp trong đây chúng Tỳ kheo ni không phái ai đến.
Hôm nay tăng hòa hợp để làm gì? Đáp: để Kiết-ma tụng giới.
Đại đức tăng nghe cho, hôm nay là ngày 15, ngày tăng bố-tát tụng giới, nếu tăng thấy đến lúc (8), tăng chấp thuận, thì cử hành bố-tát tụng giới. Xin tác bạch như vậy. Tác bạch thành không? Đáp: thành (9) .
III. Tỳ kheo Giới:
III.1 Lời Mở Đầu
Bạch chư đại đức, nay tôi sắp tụng Ba-la-đề-mộc-xoa (Patimokkha). Chư vị Tỳ kheo cùng tập hợp một chỗ. Chư vị hãy lắng nghe, và nhớ nghĩ cho khéo. Nếu tự biết có phạm giới thì phải tự sám hối, không phạm giới thì hãy im lặng. Vì im lặng mà biết chư đại đức thanh tịnh. Nếu có ai hỏi thì cũng trả lời như vậy. Thế nên vị Tỳ kheo ở trong đại chúng được hỏi đến lần thứ 3, và nhớ nghĩ mình có tội, mà không sám hối, thì bị tội cố ý nói dối. Mà nói dối thì Phật đã dạy là sự cản trở thánh đạo (10) . Nếu vị Tỳ kheo nhớ nghĩ mình có tội và muốn được thanh tịnh thì phải sám hối. Sám hối thì yên vui.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói lời nói đầu của Giới kinh. Nay xin hỏi chư đại đức, trong lời nói đầu ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong lời nói đầu ấy chư vị thanh tịnh cả, vì chư vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc (11) như vậy.
III.2 Bốn Giới Khí
Bạch chư đại đức, 4 giới Ba-la-di – Parajika (12) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong giới kinh.
Thứ 1, giới đại dâm dục.- Nếu Tỳ kheo đồng giới pháp với Tỳ kheo khác (12b), không xả giới, nhưng giới kém mà không tự hối, phạm vào sự bất tịnh (13) cho đến cùng với súc vật, thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo, không còn được sống chung (14) với chư tăng.
Thứ 2, giới đại trộm cắp. – Nếu Tỳ kheo ở trong xóm làng hay nơi vắng vẻ, lấy của người ta không cho với ý thức ăn trộm; tùy tội lấy của không cho mà bị vua, hay đại thần của vua, bắt, giết, trói, đuổi ra khỏi xứ, mắng rằng anh là giặc, anh ngu si, anh không biết gì, thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 3, giới đại sát hại. – Nếu Tỳ kheo cố ý tự tay sát hại mạng người, hoặc cầm dao đưa cho người, hoặc khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, rằng quái lạ, anh kia, sống khốn nạn như vậy làm gì, thà chết, đừng sống; với ý thức như vậy mà nghĩ mọi cách để khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 4, giới đại vọng ngữ.- Nếu Tỳ kheo thật không biết gì mà tự xưng tôi được pháp của bậc thượng nhân, tôi đã nhập vào pháp siêu việt của thánh trí, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy; qua thì gian khác, hoặc được hỏi hoặc không được hỏi, mà muốn tự thanh tịnh nên nói rằng tôi thật không thấy không biết gì mà nói biết nói thấy, thì, trừ tăng thượng mạn (15), phạm ba-la-di của Tỳ kheo, không còn được sống chung với chư tăng.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói 4 giới ba-la-di. Nếu Tỳ kheo phạm vào mỗi một ba-la-di, thì không còn được sống chung với chư tăng. Như khi chưa thọ đại giới, thọ đại giới rồi mà vi phạm thì cũng vậy. Nên Tỳ kheo bị tội ba-la-di thì không nên sống chung với chư tăng. Vậy nay xin hỏi chư đại đức, trong 4 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 4 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.3 Mười Ba Giới Tăng Tàn
Bạch chư đại đức, 13 giới tăng-già bà-thi-sa – Sanghadisesa (16) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1, giới cố làm xuất tinh.- Nếu Tỳ kheo cố ý lộng âm xuất tinh (17) thì, trừ chiêm bao, phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 2, giới chạm thân nữ nhân.- Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà chạm nhau với thân nữ nhân, hoặc nắm tay, hoặc nắm tóc, hoặc chạm vào mỗi một thân phần, thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 3, giới nói năng thô tục (18) .- Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà nói năng thô tục dâm đãng với nữ nhân; nói năng thô tục dâm đãng thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 4, giới đòi hiến dâm dục (19) .- Nếu Tỳ kheo với ý thức dâm dục mà đối diện với nữ nhân tự ca tụng mình, rằng cô em, tôi tu phạn hạnh, giữ giới, tinh tiến, tu các thiện pháp; cô em hãy đem sự dâm dục mà hiến cho tôi, hiến như vậy là hơn hết, thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 5, giới làm người mai mối.- Nếu Tỳ kheo qua lại đôi bên để làm mai mối, đem ý người nam nói với người nữ, đem ý người nữ nói với người nam, để làm cho họ lấy nhau hay tư thông với nhau, thì dầu chỉ chốc lát cũng phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 6, giới làm nhà quá mức (20).- Nếu Tỳ kheo tự tìm cách làm nhà chứ không có thí chủ, tự làm cho mình, thì phải làm đúng mức. Mức ở đây là dài bằng 12 gang tay của Phật, rộng bằng 7 gang tay của Ngài. Lại phải thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ. Chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ không tai nạn và không chướng ngại. Nếu Tỳ kheo nơi chỗ tai nạn và chướng ngại mà tự tìm cách làm nhà chứ không có thí chủ, tự làm cho mình, không thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ, lại làm quá mức, thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 7, giới không thỉnh chỉ định (21) .- Nếu Tỳ kheo muốn làm nhà lớn mà có thí chủ, làm cho mình, thì phải thỉnh chư Tỳ kheo đến chỉ định nơi chỗ. Chư Tỳ kheo nên chỉ định nơi chỗ không tai nạn và không chướng ngại. Nếu Tỳ kheo nơi chỗ tai nạn và chướng ngại mà làm nhà lớn, có thí chủ, làm cho mình, nhưng không thỉnh chư Tỳ kheo đến chỉ định nơi chỗ, thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 8, giới vu khống phỉ báng (22) .- Nếu Tỳ kheo vì tức giận, đối với vị Tỳ kheo không phạm tội ba-la-di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng vị ấy phạm tội ba-la-di, phỉ báng với ý thức muốn phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; rồi trong thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo biết đó là sự phỉ báng vô căn cứ, và nói rằng vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy. Tỳ kheo phỉ báng như vậy thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 9, giới xuyên tạc phỉ báng (23) .- Nếu Tỳ kheo vì tức giận nên lấy một cạnh khía của việc khác, đối với vị Tỳ kheo không phạm ba-la-di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng rằng phạm tội ba-la-di, với ý thức phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; đến thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo ấy biết mình lấy một cạnh khía của việc khác, tự nói vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 10, giới phá tăng hòa hợp (24) .- Nếu Tỳ kheo muốn phá hoại tăng hòa hợp (25) nên hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Các vị Tỳ kheo nên can gián Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đừng phá hoại tăng hòa hợp, đừng hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, đừng chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Đại đức, hãy cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 11, giới hỗ trợ phá tăng (26) .- Nếu Tỳ kheo ấy có phe cánh, một Tỳ kheo, hai Tỳ kheo, ba Tỳ kheo cho đến vô số Tỳ kheo; những Tỳ kheo phe cánh này nói với các vị Tỳ kheo, rằng chư đại đức, xin đừng can gián Tỳ kheo ấy, Tỳ kheo ấy là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo nói đúng giới luật, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận. Các vị Tỳ kheo trả lời: các đại đức, đừng nói như vậy, rằng Tỳ kheo ấy là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo nói đúng giới luật, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ấy nói chúng tôi chấp nhận. Bởi vì Tỳ kheo ấy không phải là Tỳ kheo nói đúng giáo pháp, không phải là Tỳ kheo nói đúng giới luật. Các đại đức, đừng có ý muốn phá hoại tăng hòa hợp; các đại đức, hãy thích thú tăng hòa hợp. Các đại đức, hãy cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Những Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để những Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 12, giới hoen ố tín đồ (27) .- Nếu Tỳ kheo sống trong xóm làng hay thành thị mà làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu (28), làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Các vị Tỳ kheo nói với Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe; đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu thì nay hãy đi xa khỏi xóm làng này, đừng nên ở đây nữa. Tỳ kheo ấy nói với các vị Tỳ kheo, với lời nói như vầy: chư đại đức, các vị có tham, có sân, có si, có sợ; có cái việc những Tỳ kheo đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Các vị Tỳ kheo can rằng, đại đức, đừng nói như vậy, rằng chư Tỳ kheo có tham, có sân, có si, có sợ, có cái việc những Tỳ kheo đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Bởi vì chư Tỳ kheo không tham, không sân, không si, không sợ. Đại đức đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Thứ 13, giới ngoan cố chống cự (29) .- Nếu Tỳ kheo tính tình ngoan cố, không nghe ai hết; trong giới luật, các vị Tỳ kheo đã can gián đúng phép mà bản thân Tỳ kheo ấy không chịu sự can gián ấy, bằng cách nói rằng: chư đại đức, đừng hướng về tôi mà nói tôi tốt hay tôi xấu, tôi cũng không hướng về chư đại đức mà nói các ngài tốt hay các ngài xấu. Chư đại đức hãy thôi đi, đừng luôn luôn can gián tôi. Các vị Tỳ kheo can gián Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đừng nên chính mình không chịu ai can gián. Đại đức nên chính mình chịu can gián. Đại đức hãy can gián chư Tỳ kheo một cách đúng phép, chư Tỳ kheo cũng can gián đại đức một cách đúng phép. Làm như vậy thì đệ tử của Phật được tăng ích nhờ can gián cho nhau, chỉ dạy cho nhau, sám hối với nhau. Tỳ kheo ấy khi được can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm tăng-già bà-thi-sa.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói 13 giới tăng-già bà-thi-sa mà 9 giới trước thì mới phạm là thành tội, 4 giới sau thì sau lần can gián thứ 3 mới thành tội. Nếu Tỳ kheo phạm mỗi một giới, biết mình phạm mà cố che giấu, thì chư tăng phải buộc Tỳ kheo ấy thi hành phép sống riêng (30) . Thi hành phép sống riêng rồi phải thi hành thêm phép hoan hỷ (31) trong 6 đêm ngày. Thi hành phép hoan hỷ rồi chư tăng giải tội cho. Phải giữa 20 vị Tỳ kheo mà giải tội cho Tỳ kheo ấy; nếu thiếu 1 vị, không đủ 20 vị Tỳ kheo, thì có giải tội đi nữa, tội của Tỳ kheo ấy cũng không giải được, mà chư tăng cũng đáng khiển trách. Đó là trường hợp (32) này. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 13 giới tăng-già bà-thi-sa ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 13 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.4 Hai Giới Bất Định
Bạch chư đại đức, 2 giới bất định – Aniyata (33) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1, giới ngồi ở chỗ khuất .- Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngồi riêng ở chỗ khuất, chỗ che, chỗ ngăn, chỗ có thể hành dâm, mà nói những lời phi giới pháp. Có người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm (34), nói Tỳ kheo ấy phạm 1 trong 3 tội sau đây, tội ba-la-di, tội tăng-già bà-thi-sa, tội ba-dật-đề; Tỳ kheo ấy cũng tự nói tôi phạm tội ấy. Như vậy thì phải trị theo 1 trong 3 tội sau đây, tội ba-la-di, tội tăng-già bà-thi-sa, tội ba-dật-đề. Phải đúng như người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói mà trị tội Tỳ kheo ấy một cách đúng phép. Như thế gọi là sự bất định.
Thứ 2, giới ngồi ở chỗ trống.- Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngồi ở chỗ trống, chỗ không thể hành dâm, mà nói thô tục. Có người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói Tỳ kheo ấy phạm 1 trong 2 tội sau đây, tội tăng-già bà-thi-sa, tội ba-dật-đề; Tỳ kheo ấy cũng tự nói tôi phạm tội ấy. Như vậy thì phải trị theo 1 trong 2 tội sau đây, tội tăng-già bà-thi-sa, tội ba-dật-đề. Phải đúng như người nữ tín đồ đầy đủ tín tâm nói mà trị tội Tỳ kheo ấy một cách đúng phép. Như thế gọi là sự bất định.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói 2 giới bất định. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 2 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 2 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.5 Ba Mươi Giới Xả Đọa
Bạch chư đại đức, 30 giới ni-tát-kỳ ba-dật-đề – Nissaggiya pacittiya (35) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1, giới cất y quá hạn.- Nếu Tỳ kheo 3 y (36) đã hoàn chỉnh, y công đức (37) đã xả, mà cất giữ trường y (38), thì không làm tịnh thí (39) cũng được cất giữ, nhưng quá 10 ngày thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 2, giới rời y mà ngủ.- Nếu Tỳ kheo 3 y hoàn chỉnh, y công đức đã xả, mà trong 3 y rời 1 y ngủ khác chỗ (39b), thì, trừ được tăng Kiết-ma (40) cho phép, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 3, giới cất vải quá hạn.- Nếu Tỳ kheo 3 y hoàn chỉnh (41), y công đức đã xả, nhưng Tỳ kheo ấy được vải phi thời, vậy cần thì cứ nhận, nhận rồi may y cho mau thành. Nếu vải đủ thì tốt, nếu vải không đủ thì được phép cất lại 1 tháng, chờ cho đủ vải. Nếu cất lại quá hạn ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 4, giới lấy y không thân (42) .- Nếu Tỳ kheo lấy y của Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình, thì, trừ sự trao đổi, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 5, giới bảo giặt y cũ (43) .- Nếu Tỳ kheo bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình giặt y cũ, hoặc nhuộm hoặc vỗ, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 6, giới xin người y mới (44) .- Nếu Tỳ kheo xin y mới nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình, thì, trừ trường hợp khác, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Trường hợp khác là nếu y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, như vậy gọi là trường hợp khác.
Thứ 7, giới lấy vải quá phận.- Nếu Tỳ kheo y bị mất, bị cướp, bị cháy, bị trôi, và nếu cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình tự ý xin cho nhiều vải, thì Tỳ kheo ấy nên nhận vải ấy theo sự biết vừa đủ. Nếu nhận nhiều hơn thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 8, giới xin thêm tiền y (45) .- Nếu Tỳ kheo có cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y cho Tỳ kheo ấy, nói rằng sắm số tiền may y như vậy để cúng cho Tỳ kheo tên như vậy. Tỳ kheo ấy trước không có nhận lời xin tùy ý (45b) vậy mà vì muốn được y tốt nên đến nhà cư sĩ, nói như thế này: tốt lắm, cư sĩ, hãy vì tôi mà mua sắm cái y như vậy cho tôi. Như vậy mà được y thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 9, giới khuyên chung tiền lại (46) .- Nếu Tỳ kheo có 2 cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y cho Tỳ kheo ấy, nói rằng mua y như vậy để cúng cho Tỳ kheo tên như vậy. Tỳ kheo ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, vậy mà vì muốn được y tốt nên đến 2 nhà cư sĩ nói như vầy: tốt lắm, cư sĩ, hãy sắm tiền mua y như vậy, chung nhau mà mua cho tôi 1 cái y. Như vậy mà được y thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 10, giới đòi y quá hạn.- Nếu Tỳ kheo có vua, đại thần, bà la môn, cư sĩ và vợ cư sĩ, phái người đưa số tiền sắm y đến cho Tỳ kheo ấy, nói rằng hãy cầm tiền sắm y này đến đưa cho vị Tỳ kheo tên như vậy. Người được phái đến chỗ Tỳ kheo ấy, nói với Tỳ kheo ấy, rằng bạch đại đức, nay con đem tiền sắm y đến cho ngài, xin ngài nhận lấy. Tỳ kheo ấy nói như thế này với người được phái, rằng tôi không nên nhận số tiền sắm y này; nếu khi tôi cần y thì phải đúng và thanh tịnh mới nhận được. Người được phái nói với Tỳ kheo ấy, rằng bạch đại đức, ngài có người giúp việc không? Tỳ kheo ấy nói có; có người ở trong chùa kia, có người nam cư sĩ kia, họ là những người giúp việc của các Tỳ kheo, thường giúp việc cho các ngài. Bấy giờ người được phái đi đến nơi người giúp việc, giao số tiền sắm y, rồi trở lại chỗ Tỳ kheo ấy, nói như vầy: bạch đại đức, người giúp việc tên như vậy, mà ngài đã chỉ, con đã giao cho người ấy số tiền sắm y. Khi nào đại đức thấy đúng lúc thì xin ngài đến người ấy, sẽ sắm được y. Tỳ kheo ấy khi cần y thì nên đến người giúp việc mà, lần thứ hai và lần thứ ba, nhắc cho người ấy nhớ, bằng cách nói rằng tôi cần y; nếu lần thứ hai và lần thứ ba nhắc cho người ấy nhớ mà được y thì tốt. Nếu không được y thì lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, hãy yên lặng đứng trước người ấy; nếu lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, yên lặng đứng trước người ấy mà được y thì tốt. Nếu không được y mà đòi quá giới hạn nói trên để cho được y, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu không được y thì tự mình đi hay phái người đi, đến nơi người cho tiền sắm y mà nói, rằng trước đây người phái người đem tiền sắm y đến cho tôi, Tỳ kheo tên như vậy; nhưng rốt cuộc tôi không được y, vậy người hãy đi lấy về, đừng để mất đi. Đó là trường hợp có thể làm.
Thứ 11, giới ngọa cụ tơ tằm.- Nếu Tỳ kheo kiếm tơ tằm xen với tơ lụa mà làm ngọa cụ mới, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 12, giới ngọa cụ lông đen.- Nếu Tỳ kheo lấy lông dê mới và toàn đen mà làm ngọa cụ mới, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 13, giới ngọa cụ lông trắng.- Nếu Tỳ kheo làm ngọa cụ mới thì nên dùng lông dê mà 2 phần màu đen, 3 phần màu trắng, và 4 phần màu lẫn lộn; nếu Tỳ kheo ấy không dùng 2 phần màu đen, 3 phần màu trắng, và 4 phần màu lẫn lộn (46b) mà làm ngọa cụ mới, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 14, giới ngọa cụ còn mới (47) .- Nếu Tỳ kheo thì làm ngọa cụ mới, phải dùng đến 6 năm. Nếu dưới 6 năm, không xả bỏ cái cũ mà thay vào đó làm cái mới, thì, trừ tăng Kiết-ma cho phép, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 15, giới tọa cụ toàn mới (48) .- Nếu Tỳ kheo làm tọa cụ mới thì phải lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông vức 1 gang tay, may chồng lên trên tọa cụ mới để làm cho hỏng màu sắc đi. Nếu làm tọa cụ mới mà không lấy 1 miếng tọa cụ cũ vuông vức 1 gang tay, may chồng lên trên tọa cụ mới để làm cho hỏng màu sắc đi, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 16, giới cầm lông quá hạn (49) .- Nếu Tỳ kheo đi đường được lông dê, không có ai cầm giúp, thì mình được phép cầm lấy, nhưng cầm đi cho đến 3 do tuần mà thôi. Nếu không có ai cầm giúp, mình tự cầm lấy mà đi quá 3 do tuần, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 17, giới nhờ giặt lông dê (50) .- Nếu Tỳ kheo bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến giặt, nhuộm và vỗ giúp lông dê, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 18, giới cầm lấy tiền của (51) .- Nếu Tỳ kheo tự tay cầm lấy tiền, cầm lấy bạc vàng, hoặc bảo người cầm lấy, hoặc nhận lấy bằng cách bảo để xuống mặt đất, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 19, giới đổi chác tiền của (52) .- Nếu Tỳ kheo mà đổi chác (53) các thứ tiền và của báu, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 20, giới buôn bán các thứ.- Nếu Tỳ kheo mà mua rẻ bán đắt mọi thứ, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 21, giới cất bát quá hạn.- Nếu Tỳ kheo cất giữ trường bát (53b) mà không tịnh thí, thì chỉ được phép cất giữ 10 ngày. Quá thì hạn ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 22, giới kiếm bát quá phận.- Nếu Tỳ kheo dùng cái bát chưa đủ 5 chỗ hàn bịt, bát ấy cũng chưa rỉ nước, vậy mà thay vào đó đi tìm bát mới cho đẹp, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Tỳ kheo ấy nên đến giữa chư tăng mà xả bỏ bát mới ấy, và chư tăng tuần tự lấy cái bát của người thấp nhất (53c) đưa cho Tỳ kheo ấy dùng, và dùng cho đến bể. Đó là đúng trường hợp.
Thứ 23, giới kiếm chỉ dệt y (54) .- Nếu Tỳ kheo tự xin chỉ dệt, bảo thợ dệt không phải thân quyến của mình dệt y giúp, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 24, giới bảo thợ dệt thêm (55) .- Nếu Tỳ kheo có cư sĩ và vợ cư sĩ bảo thợ dệt dệt y cho Tỳ kheo ấy. Tỳ kheo ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, lại đi đến chỗ thợ dệt, bảo rằng y này là dệt cho tôi, vậy anh dệt giúp cho thật đẹp, dệt cho rộng và bền, tốn thêm nhiều ít gì tôi cũng sẽ trả cho anh. Tỳ kheo ấy trả thêm tiền dầu chỉ đáng giá một bữa ăn mà được y, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 25, giới đoạt lấy y lại.- Nếu Tỳ kheo trước cho y Tỳ kheo khác, sau vì tức giận nên tự đoạt lại, hay bảo người đoạt, và rằng hãy trả y lại cho tôi, tôi không cho ông nữa. Tỳ kheo kia trả y, mà Tỳ kheo ấy lấy y, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 26, giới cất thuốc quá hạn (56) .- Nếu Tỳ kheo có bịnh, thì thuốc dư như sữa tô, dầu, sữa tô tươi, mật ong, đường phèn, được dùng trong thì hạn 7 ngày. Nếu quá 7 ngày mà còn dùng thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 27, giới khăn tắm trước hạn (57) .- Nếu Tỳ kheo thì mùa xuân còn 1 tháng nên kiếm khăn tắm mưa, còn nửa tháng nên dùng mà tắm. Nếu Tỳ kheo mà trước kiết hạ hơn 1 tháng đã kiếm khăn tắm mưa, trước kiết hạ hơn nửa tháng đã dùng mà tắm (58), thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 28, giới cất y cúng gấp (59) .- Nếu Tỳ kheo còn 10 ngày nữa thì hết kiết hạ 3 tháng (60), chư Tỳ kheo được phép nhận y cúng vội vàng. Tỳ kheo ấy biết là y cúng vội vàng thì nên nhận, nhận rồi được cất giữ trong thì hạn của y ấy (61) . Nếu cất giữ quá thì hạn ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 29, giới rời y quá hạn (62) .- Nếu Tỳ kheo kiết hạ 3 tháng đã xong, sau đó 1 tháng ca-đề (63) cũng hết, đến ở chỗ a-lan-nhã (64), mà là chỗ có sự nghi ngại, khiếp sợ. Tỳ kheo ấy ở chỗ như vậy, thì trong 3 y, muốn thì gửi để 1 y trong nhà thôn xóm. Tỳ kheo ấy có lý do như vậy thì được phép rời y mà ngủ đến 6 đêm. Rời quá thì hạn ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 30, giới xoay vật chư tăng (65) .- Nếu Tỳ kheo biết đó là vật người ta muốn hiến cúng cho chư tăng, mà mình tìm cách xoay lại hiến cúng cho mình, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói 30 giới ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 30 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 30 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.6 Chín Mươi Giới Đọa
Bạch chư đại đức, 90 giới ba-dật-đề – Pacittiya (66) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1, giới cố ý nói dối.- Nếu Tỳ kheo biết (67) mà nói dối, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 2, giới chưởi mắng thành phần (68) .- Nếu Tỳ kheo đem thành phần xã hội ra mà chưởi mắng, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 3, giới nói để ly gián (69) .- Nếu Tỳ kheo nói ly gián thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 4, giới ngủ cùng một nhà (70) .- Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân ngủ một nhà thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 5, giới ngủ quá thì hạn (71) .- Nếu Tỳ kheo cùng ngủ với người chưa thọ đại giới mà quá 2 đêm, đến đêm thứ 3 thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 6, giới đọc tụng ồn náo (72) .- Nếu Tỳ kheo cùng với người chưa thọ đại giới đọc tụng kinh pháp một cách ồn náo thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 7, giới nói tội lỗi nặng.- Nếu Tỳ kheo biết người có tội lỗi nặng mà đem nói với người chưa thọ đại giới, thì, trừ tăng Kiết-ma sai bảo, phạm ba-dật-đề.
Thứ 8, giới nói thật đắc đạo (73) .- Nếu Tỳ kheo nói với người chưa thọ đại giới, rằng tôi được cái pháp hơn người, tôi thấy như vậy, tôi biết như vậy; nói thật như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 9, giới một mình thuyết pháp (74) .- Nếu Tỳ kheo thuyết pháp cho nữ nhân mà quá năm sáu lời (75), thì, trừ sự có mặt của nam tử trí thức, phạm ba-dật-đề.
Thứ 10, giới đào cuốc đất đai.- Nếu Tỳ kheo tự tay đào đất hay bảo người đào đất thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 11, giới chặt phá cây sống.- Nếu Tỳ kheo chặt phá cây cối, có nghĩa phá hủy chỗ ở của quỉ thần và sinh vật (76), thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 12, giới nói làm bực mình.- Nếu Tỳ kheo bày đặt nói quanh để làm người khác bực mình, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 13, giới ghét mắng tri sự.- Nếu Tỳ kheo ghét mắng chức sự của chư tăng thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 14, giới trải đồ đất trống (77) .- Nếu Tỳ kheo đem đồ của chư tăng như giường giây (78), giường cây, đồ nằm và nệm ngồi, tự sắp ra trên mặt đất trống, hay bảo người sắp ra, dùng rồi bỏ đó mà đi, không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 15, giới trải đồ chỗ che (79) .- Nếu Tỳ kheo sắp đồ nằm của chư tăng ra trong tăng phòng, tự mình sắp ra hay bảo người sắp ra, rồi hoặc ngồi hoặc nằm, nhưng khi đi thì không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 16, giới cưỡng chiếm chỗ nằm (80) .- Nếu Tỳ kheo biết chỗ của Tỳ kheo ở trước, mình đến sau mà cưỡng chiếm ở giữa, trải đồ nằm ra ngủ nghỉ, với ý nghĩ rằng nếu Tỳ kheo ở trước hiềm chật quá thì sẽ tự tránh mình mà đi. Ấy là muốn làm như thế chứ không có lý do gì khác. Phi uy nghi như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 17, giới lôi ra khỏi phòng.- Nếu Tỳ kheo tức giận, không ưa Tỳ kheo khác, nên trong phòng hay trong nhà của chư tăng mà tự mình lôi ra hay bảo người lôi ra, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 18, giới ngồi giường sút chân.- Nếu Tỳ kheo ở trong phòng hay trên gác, mà ngồi hay nằm trên giường giây hay giường cây sút chân, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 19, giới dùng nước có trùng.- Nếu Tỳ kheo biết nước có trùng mà tự đem dội trên đất trên cỏ, hay bảo người dội, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 20, giới lợp nhà quá mức.- Nếu Tỳ kheo làm phòng hay nhà lớn, có cửa cánh, cửa sổ, và những đồ trang trí khác, thì chỉ bảo lợp tranh chừng hai hay ba lớp. Lợp quá thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 21, giới tự đi dạy ni.- Nếu Tỳ kheo chư tăng không sai phái mà tự đi giáo thọ cho Tỳ kheo ni, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 22, giới thuyết pháp đến tối (81) .- Nếu Tỳ kheo được chư tăng sai phái đi giáo thọ cho Tỳ kheo ni, mà đi đến trời tối thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 23, giới phỉ báng giáo thọ.- Nếu Tỳ kheo nói với các Tỳ kheo khác bằng lời nói như vầy: các Tỳ kheo chỉ vì sự ăn uống mà đi giáo thọ cho Tỳ kheo ni, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 24, giới đem y cho ni (82) .- Nếu Tỳ kheo đem y cho Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình, thì, trừ sự trao đổi, phạm ba-dật-đề.
Thứ 25, giới may y cho ni (83) .- Nếu Tỳ kheo may y cho Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 26, giới cùng ngồi với ni.- Nếu Tỳ kheo cùng với Tỳ kheo ni ngồi ở chỗ khuất, ngăn, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 27, giới hẹn ni cùng đi.- Nếu Tỳ kheo hẹn với Tỳ kheo ni đi chung một đường, thì dầu chỉ từ một xóm đến một xóm, cũng vẫn, trừ trường hợp khác, phạm ba-dật-đề. Trường hợp khác là đi với người đi buôn, hoặc đi mà có sự nghi ngại sợ hãi, đó gọi là trường hợp khác.
Thứ 28, giới cùng ni đi thuyền.- Nếu Tỳ kheo cùng Tỳ kheo ni hẹn nhau đi chung một thuyền ngược dòng hay xuôi dòng thì, trừ trường hợp đi đò ngang qua sông, phạm ba-dật-đề.
Thứ 29, giới ăn của ni khuyên.- Nếu Tỳ kheo biết đồ ăn do Tỳ kheo ni ca tụng khuyến hóa mà có, mà vẫn ăn, thì, trừ trường hợp thí chủ có ý thỉnh trước, phạm ba-dật-đề.
Thứ 30, giới đi với nữ nhân.- Nếu Tỳ kheo cùng nữ nhân hẹn nhau đi một đường, thì dầu chỉ đi đến một xóm cũng vẫn phạm ba-dật-đề.
Thứ 31, giới ăn quá một bữa.- Nếu Tỳ kheo có thí chủ chỉ cúng một bữa ăn, Tỳ kheo ấy không bịnh thì nên ăn một bữa thôi. Nếu ăn quá đi thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 32, giới ăn nhiều lần ăn.- Nếu Tỳ kheo ăn nhiều lần thì, trừ trường hợp khác, phạm ba-dật-đề. Trường hợp khác là khi mình bị bịnh, khi có người dâng y, đó gọi là trường hợp khác.
Thứ 33, giới ăn riêng tăng chúng.- Nếu Tỳ kheo ăn riêng tăng chúng thì, trừ các trường hợp khác, phạm ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bịnh, khi may y gấp, khi có người dâng y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập hợp, khi sa môn của ngoại đạo mời ăn, đó gọi là các trường hợp khác.
Thứ 34, giới nhận quá giới hạn (84) .- Nếu Tỳ kheo đến nhà cư sĩ có ý thỉnh Tỳ kheo để cúng bánh, miến và cơm, Tỳ kheo ấy nếu cần thì nhận vài ba bát, đem về trong chùa nên chia cho các Tỳ kheo khác cùng ăn. Nếu Tỳ kheo ấy không bịnh mà nhận quá vài ba bát, đem về trong chùa cũng không chia cho các Tỳ kheo khác cùng ăn, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 35, giới muốn ăn cho đủ.- Nếu Tỳ kheo ăn xong rồi, mà có khi nhận lời mời ăn nữa, nếu không làm phép ăn thừa (85) mà ăn, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 36, giới ép phạm ăn nữa.- Nếu Tỳ kheo biết Tỳ kheo khác ăn đủ rồi, mình có nhận lời mời ăn nữa mà không làm phép ăn thừa, lại ân cần mời Tỳ kheo khác ấy cùng ăn với mình, và Tỳ kheo khác ấy cùng ăn. Tỳ kheo ấy chỉ vì lý do muốn làm cho Tỳ kheo khác ấy phạm giới, chứ không có lý do gì khác nữa, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 37, giới ăn lúc phi thời.- Nếu Tỳ kheo ăn lúc không phải giờ ăn (86), ăn như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 38, giới ăn đồ cách đêm.- Nếu Tỳ kheo đồ ăn để cách đêm mà ăn, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 39, giới ăn đồ không nhận (87) .- Nếu Tỳ kheo đối với thức ăn hay thuốc mình không nhận lời mời mà đã bỏ vào miệng (88) thì, trừ nước và tăm, phạm ba-dật-đề.
Thứ 40, giới đòi đồ ăn ngon.- Nếu Tỳ kheo được có những thức ăn ngon như sữa, sữa lạc (89); Tỳ kheo ấy có những thức ăn ngon ấy mà vốn không bịnh, chỉ tự đòi cho mình, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 41, giới cho ngoại đạo ăn.- Nếu Tỳ kheo đối với ngoại đạo nam hay ngoại đạo nữ, mà mình tự tay cho họ thức ăn, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 42, giới đi mà không nói (90) .- Nếu Tỳ kheo trước đã nhận lời mời về bữa ăn trước hay bữa ăn sau, rồi đi đến nhà khác mà không dặn lại cho các Tỳ kheo, thì, trừ trường hợp khác, phạm ba-dật-đề. Trường hợp khác là bịnh, may y, cho y, đó gọi là trường hợp khác.
Thứ 43, giới nhà ăn ngồi dai (91) .- Nếu Tỳ kheo tại nhà ăn có vật báu (92) mà mình miễn cưỡng ngồi dai thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 44, giới nhà ăn ngồi khuất (93) .- Nếu Tỳ kheo tại nhà ăn có vật báu mà mình ngồi chỗ khuất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 45, giới ngồi với nữ nhân (94) .- Nếu Tỳ kheo ngồi một mình với nữ nhân ở chỗ đất trống, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 46, giới đuổi người đi đi.- Nếu Tỳ kheo nói với Tỳ kheo khác như vầy, đại đức, đi với tôi đến xóm làng, sẽ có thức ăn cho đại đức. Nhưng đến rồi, Tỳ kheo ấy đã không khuyên cúng thức ăn cho Tỳ kheo khác này, mà lại bảo đại đức đi đi, tôi cùng đại đức ngồi hay nói với nhau một chỗ thì tôi không ưa, tôi ngồi một mình nói một mình thì thích hơn. Chỉ vì lý do như vậy, chứ không vì lý do gì khác hơn mà tìm cách xua đuổi người khác đi đi, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 47, giới nhận thuốc quá hạn.- Nếu Tỳ kheo được hứa cho thuốc 4 tháng, Tỳ kheo ấy không bịnh cũng nên nhận. Nhưng nếu nhận quá thì hạn ấy, thì, trừ người ta xin cho luôn, xin cho thêm, xin chia mà cho, xin cho suốt đời, phạm ba-dật-đề.
Thứ 48, giới đi coi quân trận.- Nếu Tỳ kheo đi coi quân trận thì, trừ trường hợp có lý do, phạm ba-dật-đề.
Thứ 49, giới trong quân quá hạn (95) .- Nếu Tỳ kheo có lý do thì được phép đến trong quân đội tá túc 2 đêm 3 đêm, quá thì hạn ấy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 50, giới coi quân diễn tập.- Nếu Tỳ kheo được phép tá túc trong quân đội vài ba đêm mà hoặc coi quân đội dàn trận, hoặc coi lực lượng tượng binh kỳ binh diễn tập, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 51, giới uống các thứ rượu.- Nếu Tỳ kheo uống các thứ rượu thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 52, giới đùa giỡn dưới nước.- Nếu Tỳ kheo đùa giỡn dưới nước thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 53, giới thọc léc người khác.- Nếu Tỳ kheo lấy ngón tay ngón chân thọc léc lẫn nhau thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 54, giới không nhận khuyên can.- Nếu Tỳ kheo không chấp nhận mọi sự khuyên can thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 55, giới dọa cho người sợ.- Nếu Tỳ kheo dọa cho Tỳ kheo khác sợ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 56, giới tắm dưới nửa tháng.- Nếu Tỳ kheo thì nửa tháng tắm rửa. Tỳ kheo không bịnh thì nên chấp nhận như vậy, không được nhiều hơn, vì trừ trường hợp khác thì phạm ba-dật-đề. Trường hợp khác là khi nóng, khi bịnh, khi làm việc, khi bị gió mưa, khi đi đường, đó gọi là những trường hợp khác.
Thứ 57, giới đốt lửa đất trống.- Nếu Tỳ kheo không bịnh, mà chỉ vì sưởi ấm nên tự đốt lửa giữa đất trống hay bảo người đốt, thì, trừ trường hợp có lý do, phạm ba-dật-đề.
Thứ 58, giới cất giấu vật dụng.- Nếu Tỳ kheo cất giấu vật dụng của Tỳ kheo khác như y, bát, đồ ngồi, ống kim, mình tự cất giấu hay bảo người cất giấu, ít nhất chỉ để giỡn chơi thôi, cũng phạm ba-dật-đề.
Thứ 59, giới cho rồi lấy lại (96) .- Nếu Tỳ kheo đã đem y cho Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thức xoa ma na, sa-di, sa-di ni rồi, sau đó không nói với người chủ của y được cho, mà lấy lại dùng, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 60, giới dùng y mới nguyên.- Nếu Tỳ kheo được có y mới nguyên, thì trong 3 màu làm hỏng nguyên màu, tùy ý lấy 1 màu mà làm hỏng nguyên màu đi, đó là màu xanh, màu đen, màu nấu vỏ cây mộc lan. Nếu Tỳ kheo ấy không lấy màu xanh, màu đen, màu nấu vỏ cây mộc lan, 3 màu làm hỏng nguyên màu đi, mà dùng y mới nguyên, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 61, giới cố hại súc sinh.- Nếu Tỳ kheo cố hại tính mạng súc sinh, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 62, giới uống nước có trùng.- Nếu Tỳ kheo biết nước có trùng mà vẫn uống vẫn dùng, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 63, giới quấy rối người khác (97) .- Nếu Tỳ kheo cố ý làm bực mình Tỳ kheo khác, thì dầu làm cho chốc lát không vui thôi cũng phạm ba-dật-đề.
Thứ 64, giới che giấu tội người.- Nếu Tỳ kheo biết Tỳ kheo khác phạm tội nặng mà che giấu, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 65, giới độ người thiếu tuổi (98) .- Tuổi đầy 20 mới nên lãnh thọ đại giới. Nếu Tỳ kheo biết người tuổi chưa đầy 20 mà cho lãnh thọ đại giới, thì người ấy không được giới pháp, mà Tỳ kheo ấy cũng đáng trách vì ngu muội, nên phạm ba-dật-đề.
Thứ 66, giới khơi sự tranh cãi (99) .- Nếu Tỳ kheo biết sự tranh cãi đã sám hối đúng phép rồi, mà sau đó mình còn khơi dậy trở lại, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 67, giới hẹn đi với giặc.- Nếu Tỳ kheo biết là giặc mà hẹn cùng đi một đường, thì dẫu đi chỉ bằng đến một thôn cũng phạm ba-dật-đề.
Thứ 68, giới chống can nói càn (100) .- Nếu Tỳ kheo nói như vầy: theo tôi biết giáo pháp Phật nói thì hành dâm không phải là sự chướng đạo. Tỳ kheo khác can Tỳ kheo ấy, rằng đại đức, đừng nói như vậy, đừng phỉ báng đức Thế tôn. Phỉ báng đức Thế tôn thì không tốt. Đức Thế tôn không nói như vậy. Đức Thế tôn đã dùng nhiều cách nói rằng phạm vào sự dâm dục là điều chướng đạo. Tỳ kheo khác can gián Tỳ kheo ấy mà Tỳ kheo ấy kiên trì không bỏ, thì Tỳ kheo khác phải can gián đến lần thứ 3 để Tỳ kheo ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Nếu can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 69, giới theo người có lỗi (101) .- Nếu Tỳ kheo biết Tỳ kheo nói “theo tôi biết giáo pháp Phật nói thì hành dâm không phải là sự chướng đạo” đang bị cử tội mà chưa được tác pháp giải tội, sự thấy biết sai lầm đến như vậy cũng không chịu từ bỏ; biết như vậy mà vẫn cung cấp đồ dùng, vẫn chung cùng Kiết-ma, vẫn cùng ngủ nghỉ cùng nói chuyện, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 70, giới dung kẻ bị đuổi (102) .- Nếu Tỳ kheo biết sa-di nói như vầy: tôi nghe Phật nói hành dâm không phải là sự chướng đạo. Các vị Tỳ kheo can gián sa-di ấy, bằng cách nói rằng ông đừng phỉ báng đức Thế tôn, phỉ báng đức Thế tôn thì không tốt; đức Thế tôn không dạy như ông nói. Này, sa-di, đức Thế tôn đã dùng nhiều cách nói dâm dục là sự chướng đạo. Các vị Tỳ kheo can gián như vậy mà sa-di ấy kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo nên can gián đến lần thứ 3 để sa-di ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Nếu can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt. Nếu không bỏ thì các vị Tỳ kheo nên bảo sa-di ấy, rằng từ nay sắp đi ông không còn được nói đức Phật là đấng Thế tôn của con, không được theo các vị Tỳ kheo, các sa-di khác được ngủ một phòng với Tỳ kheo vài ba đêm thì ông không còn được sự ấy nữa: ông hãy đi ra đi, hãy đi mất đi, không nên ở đây nữa. Nếu Tỳ kheo biết sa-di ấy biể chư tăng đuổi như vậy mà dụ dỗ đem về nuôi dưỡng, cho ở chung ngủ chung, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 71, giới chống cự khuyên học.- Nếu Tỳ kheo khi được các Tỳ kheo đúng phép can gián, mà nói như vầy: tôi nay không học giới này, tôi sẽ gạn hỏi vị Tỳ kheo trì luật nào có trí tuệ, thì phạm ba-dật-đề. Nếu muốn học thật thì lại cần phải gạn hỏi.
Thứ 72, giới phỉ báng giới pháp.- Nếu Tỳ kheo khi nghe thuyết giới mà nói như vầy: đại đức cần gì phải nói những giới điều vụn vặt như vậy. Nói những giới điều như vậy chỉ làm người bực mình, xấu hổ, thắc mắc. Vì khinh chê giới pháp nên phạm ba-dật-đề.
Thứ 73, giới sợ nên nói trước (103) .- Nếu Tỳ kheo khi nghe thuyết giới mà nói như vầy: nay tôi mới biết giới điều này được chép trong Giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần, rút ra từ trong Giới kinh. Nhưng các Tỳ kheo khác biết Tỳ kheo ấy đã 2 lần 3 lần ngồi nơi chỗ thuyết giới, huống chi đã nhiều lần. Tỳ kheo ấy nói không hiểu biết, vậy nếu phạm tội thì phải đúng phép mà trị tội đã phạm, lại trị thêm tội không hiểu biết; hãy bảo rằng, đại đức, ông không được lợi ích, không khéo léo kiếm được lợi ích, ấy là khi nghe thuyết giới mà ông không dụng tâm ghi nhớ, không nghe với một lòng và hai tai, ấy vậy, không hiểu biết giới điều thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 74, giới Kiết-ma rồi hối (104) .- Nếu Tỳ kheo chung cùng Kiết-ma rồi, sau đó nói rằng các Tỳ kheo theo bạn thân nên lấy vật của chư tăng mà cho họ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 75, giới không nói dữ dục.- Nếu Tỳ kheo, chư tăng xử việc chưa xong, mình không nói dữ dục mà đứng dậy đi ra, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 76, giới dữ dục rồi hối.- Nếu Tỳ kheo dữ dục rồi sau đó hối tiếc, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 77, giới lén nghe tranh cãi (105) .- Nếu Tỳ kheo, các Tỳ kheo tranh cãi với nhau, mình lén nghe rồi đem lời ấy nói với người khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 78, giới đánh Tỳ kheo khác (106) .- Nếu Tỳ kheo vì tức giận không vui mà đánh Tỳ kheo khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 79, giới tát Tỳ kheo khác.- Nếu Tỳ kheo vì tức giận không vui mà lấy tay tát Tỳ kheo khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 80, giới vu khống phạm tội (107) .- Nếu Tỳ kheo vì tức giận nên đem sự vô căn cứ mà phỉ báng Tỳ kheo khác phạm tăng-già bà-thi-sa, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 81, giới vào cửa cung vua.- Nếu Tỳ kheo, có vua thuộc dòng Sát-lợi, rưới nước đỉnh đầu lúc đăng quang, vua này chưa ra khách, chưa cất bảo vật, mà mình đi vào, nếu bước qua ngưỡng cửa cung vua, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 82, giới cầm giữ vàng ngọc.- Nếu Tỳ kheo đối với vàng ngọc hay đồ trang sức bằng vàng ngọc, mà mình tự cầm giữ hay bảo người cầm giữ, thì, trừ trong chùa và chỗ ngủ nhờ, phạm ba-dật-đề. Trong chùa và chỗ ngủ nhờ mà cầm giữ vàng ngọc hay đồ trang sức bằng vàng ngọc, tự mình cầm giữ hay bảo người cầm giữ, thì nên nghĩ rằng để người chủ nhớ mà đến lấy: vì ý nghĩ ấy chứ không vì gì khác.
Thứ 83, giới đi không phải lúc (108) .- Nếu Tỳ kheo đi vào xóm làng không phải lúc, mà không dặn lại Tỳ kheo khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 84, giới làm giường quá cỡ.- Nếu Tỳ kheo làm giường giây giường cây, thì chân chỉ cao bằng 8 ngón tay của Phật, trừ chỗ vô mộng hớt rồi. Nếu quá cỡ ấy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 85, giới dồn bông độn nệm (109) .- Nếu Tỳ kheo dồn đâu la làm nệm lớn nệm nhỏ cho giường giây giường cây, làm thành là phạm ba-dật-đề.
Thứ 86, giới làm ống đựng kim (110) .- Nếu Tỳ kheo làm ống đựng kim bằng xương, nanh, sừng, khoét chuốt làm thành, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 87, giới ngọa cụ quá cỡ (111) .- Nếu Tỳ kheo làm ni sư đàn thì phải làm đúng cỡ. Cỡ ở đây là dài bằng 2 gang tay của Phật, rộng bằng 1 gang rưỡi; cần rộng dài thêm thì mỗi bề thêm nửa gang tay nữa. Quá cỡ ấy thì cắt thành là phạm ba-dật-đề.
Thứ 88, giới làm khăn che ghẻ (112) .- Nếu Tỳ kheo làm khăn che ghẻ thì phải đúng cỡ. Cỡ ở đây là dài bằng 4 gang tay của Phật, rộng bằng 2 gang tay. Cắt rồi mà quá cỡ ấy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 89, giới khăn tắm quá cỡ.- Nếu Tỳ kheo làm khăn tắm mưa thì phải làm đúng cỡ. Cỡ ở đây là dài bằng 6 gang tay của Phật, rộng bằng 2 gang rưỡi. Quá cỡ ấy thì cắt rồi là phạm ba-dật-đề.
Thứ 90, giới 3 y quá cỡ.- Nếu Tỳ kheo thì may y phải bằng cỡ y của Phật, may quá cỡ ấy thì phạm ba-dật-đề. Ở đây cỡ y của Phật là dài bằng 9 gang tay của Ngài, rộng bằng 6 gang tay, đó là cỡ của y Phật.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói 90 giới ba-dật-đề. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 90 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 90 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.7 Bốn Giới Hối Quá
Bạch chư đại đức, 4 giới ba-la-đề-xá-ni – Patidesaniya (113) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1, giới ăn đồ ăn ni (114) .- Nếu Tỳ kheo vào trong làng xóm, không bịnh, mà tự tay nhận lấy đồ ăn mà ăn của Tỳ kheo ni không phải thân quyến, thì Tỳ kheo ấy phải đến Tỳ kheo khác mà hối lỗi như vầy: bạch đại đức, tôi phạm vào sự đáng trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại đức mà hối lỗi. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 2, giới ăn đồ chỉ bảo (115) .- Nếu Tỳ kheo đến ăn ở nhà cư sĩ, ở đây có Tỳ kheo ni chỉ bảo đưa đồ ăn (116) vị này, đưa cơm vị kia, thì Tỳ kheo ấy nên nói với Tỳ kheo ni, rằng xin bà chị thôi đi, để các Tỳ kheo ăn xong đồ ăn này đã. Nếu không có một Tỳ kheo nào nói với Tỳ kheo ni ấy như vậy, rằng xin bà chị thôi đi, để các Tỳ kheo ăn xong đồ ăn này đã, thì Tỳ kheo thủ chúng phải đến Tỳ kheo khác mà hối lỗi như vầy: bạch đại đức, tôi phạm vào sự đáng trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại đức mà hối lỗi. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 3, giới ăn của học gia (117) .- Nếu trước đã làm phép Kiết-ma học gia, mà nơi học gia ấy, Tỳ kheo không được mời trước, không bịnh, mà tự tay nhận lấy đồ ăn của họ mà ăn, thì Tỳ kheo ấy phải đến Tỳ kheo khác mà hối lỗi như vầy: bạch đại đức, tôi phạm vào sự đáng trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại đức mà hối lỗi. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 4, giới ăn chỗ nghi sợ (118) .- Nếu Tỳ kheo có chỗ vắng vẻ, xa, và có sự nghi sợ; Tỳ kheo ấy ở chỗ vắng vẻ như vậy mà không nói trước cho thí chủ biết đường đến chỗ ấy đáng sợ, Tỳ kheo ấy cũng không đi nhận đồ ăn ở ngoài chỗ ấy, Tỳ kheo ấy chỉ ở trong chỗ ấy, và không bịnh, vậy mà tự tay nhận lấy đồ ăn mà ăn, thì Tỳ kheo ấy phải đến Tỳ kheo khác mà hối lỗi như vầy: bạch đại đức, tôi phạm vào sự đáng trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại đức mà hối lỗi. Đó gọi là sự hối lỗi.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói 4 giới ba-la-đề-xá-ni. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 4 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 4 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.8 Một Trăm Giới Học
Bạch chư đại đức, 100 giới phải học – Sekhiya (119) sau đây, cứ mỗi nửa tháng phải tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh.
Thứ 1 .- Nên mặc quần (119b) cho tề chỉnh, phải học. Thứ 2 .- Nên mặc 3 y cho tề chỉnh, phải học. Thứ 3 .- Không được vắt trái y đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 4 .- Không được vắt trái y ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 5 .- Không được quấn y nơi cổ vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 6 .- Không được quấn y nơi cổ ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 7 .- Không được trùm đầu vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 8 .- Không được trùm đầu ngồi nhà cư sĩ, phải học. (120)
*
Thứ 9 .- Không được vừa đi vừa nhảy vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 10.- Không được vừa đi vừa nhảy ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 11 .- Không được ngồi xoạc đùi trong nhà cư sĩ, phải học. Thứ 12 .- Không được chống nạnh đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 13 .- Không được chống nạnh ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 14 .- Không được lắc mình đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 15 .- Không được lắc mình ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 16 .- Không được vung tay đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 17 .- Không được vung tay ngồi nhà cư sĩ, phải học.
*
Thứ 18 .- Khéo che mình kín đáo vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 19 .- Khéo che mình kín đáo ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 20 .- Không được nhìn bên này liếc bên kia đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 21 .- Không được nhìn bên này liếc bên kia ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 22 .- Yên lặng vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 23 .- Yên lặng ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 24 .- Không được giỡn cười đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 25 .- Không được giỡn cười ngồi nhà cư sĩ, phải học.
*
Thứ 26 .- Chú ý khi ăn (121), phải học. Thứ 27 .- Lấy cơm chỉ ngang miệng bát mà ăn, phải học. Thứ 28 .- Cả đồ ăn (122) nữa cũng chỉ lấy ngang miệng bát mà ăn, phải học. Thứ 29 .- Đồ ăn và cơm phải lấy tương đương với nhau, phải học. Thứ 30 .- Tuần tự mà ăn (123), phải học. Thứ 31 .- Không được moi xốc giữa bát mà ăn, phải học. Thứ 32.- Không bịnh thì không được tự hỏi cơm và đồ ăn cho mình, phải học. Thứ 33 .- Không được lấy cơm đậy đồ ăn lại để mong có đồ ăn nữa, phải học. Thứ 34 .- Không được liếc xem trong bát Tỳ kheo ngồi bên cạnh, phải học. Thứ 35 .- Phải để ý nơi bát mà ăn, phải học. Thứ 36 .- Không được dồn cơm lớn miếng mà ăn, phải học. Thứ 37 .- Không được hả lớn miệng để chờ cơm mà ăn, phải học. Thứ 38 .- Không được ngậm cơm mà nói chuyện, phải học. Thứ 39 .- Không được nắm cơm ngoài xa ném vào miệng, phải học. Thứ 40 .- Không được ăn mà còn sót lại (124), phải học. Thứ 41 .- Không được bung má mà ăn, phải học. Thứ 42 .- Không được nhai (124b) ra tiếng mà ăn, phải học. Thứ 43 .- Không được hớp cơm mà ăn, phải học. Thứ 44 .- Không được le lưỡi liếm mà ăn, phải học. Thứ 45 .- Không được rảy tay mà ăn, phải học. Thứ 46 .- Không được lượm cơm rơi mà ăn, phải học. Thứ 47 .- Không được tay dơ cầm đồ đựng nước uống (125), phải học. Thứ 48 .- Không được đổ nước rửa bát trong nhà cư sĩ, phải học.
*
Thứ 49 .- Không được đại tiện tiểu tiện, hỷ nhổ trên cỏ tươi, trừ lúc có bịnh, phải học. Thứ 50 .- Không được đại tiện tiểu tiện, hỷ nhổ vào nước sạch, trừ lúc có bịnh, phải học. Thứ 51 .- Không được đứng mà đại tiện tiểu tiện, trừ lúc có bịnh, phải học.
*
Thứ 52 .- Không được thuyết pháp cho người vắt áo lên vai, không cung kính, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 53 .- Không được thuyết pháp cho người quấn áo nơi cổ, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 54 .- Không được thuyết pháp cho người che đầu, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 55 .- Không được thuyết pháp cho người trùm đầu, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 56 .- Không được thuyết pháp cho người chống nạnh, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 57 .- Không được thuyết pháp cho người mang dép da, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 58.- Không được thuyết pháp cho người mang guốc gỗ, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 59 .- Không được thuyết pháp cho người cưỡi ngựa, trừ lúc họ có bịnh, phải học.
*
Thứ 60 .- Không được ngủ nghỉ trong tháp Phật, trừ ra để coi giữ, phải học. Thứ 61 .- Không được cất giấu của cải trong tháp Phật, trừ ra để cho chắc chắn, phải học. Thứ 62 .- Không được mang dép da vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 63 .- Không được cầm dép da vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 64 .- Không được mang dép da đi nhiễu quanh tháp Phật, phải học. Thứ 65 .- Không được mang giày ủng vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 66 .- Không được cầm giày ủng vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 67.- Không được ngồi ăn nơi tháp Phật mà xả rác và Thức ăn làm dơ đất, phải học. Thứ 68 .- Không được khiêng thây chết đi qua tháp Phật, phải học. Thứ 69 .- Không được chôn thây chết nơi tháp Phật, phải học. Thứ 70 .- Không được đốt thây chết nơi tháp Phật, phải học. Thứ 71 .- Không được hướng về tháp Phật mà đốt thây chết, phải học. Thứ 72 .- Không được đốt thây chết bốn phía tháp Phật để hơi hôi bay vào, phải học. Thứ 73 .- Không được mang áo và giường người chết đi qua tháp Phật, trừ ra đã giặt, nhuộm và xông hương, phải học. Thứ 74 .- Không được đại tiện tiểu tiện nơi tháp Phật, phải học. Thứ 75 .- Không được hướng về tháp Phật mà đại tiện tiểu tiện, phải học. Thứ 76 .- Không được đại tiện tiểu tiện bốn phía tháp Phật để hơi thối bay vào, phải học. Thứ 77 .- Không được mang ảnh tượng của Phật đến chỗ đại tiện tiểu tiện, phải học. Thứ 78 .- Không được ở nơi tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 79 .- Không được hướng về tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 80 .- Không được bốn phía tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 81 .- Không được nơi tháp Phật mà hỉ mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 82 .- Không được hướng về tháp Phật mà hỉ mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 83 .- Không được bốn phía tháp Phật mà hỉ mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 84 .- Không được ngồi duỗi chân trước tháp Phật, phải học. Thứ 85 .- Không được để tượng Phật ở phòng dưới còn mình ở phòng trên, phải học.
*
Thứ 86 .- Người ngồi mà mình đứng thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 87 .- Người nằm mà mình ngồi thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 88 .- Người ngồi ghế mà mình ngồi chỗ không phải ghế thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 89 .- Người ngồi chỗ cao mà mình ngồi chỗ thấp thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 90 .- Người đi trước mà mình đi sau thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 91 .- Người ở chỗ kinh hành cao mà mình ở chỗ kinh hành thấp thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 92 .- Người đi giữa đường mà mình đi lề đường thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học.
*
Thứ 93 .- Không được dắt tay nhau mà đi đường, phải học. Thứ 94 .- Không được trèo cây cao quá đầu người, trừ trường hợp có lý do, phải học, Thứ 95.- Không được đựng bát vào đãy, xâu vào đầu tích trượng rồi vác trên vai mà đi, phải học.
*
Thứ 96 .- Người cầm gậy, không cung kính, thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 97 .- Người cầm kiếm thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 98 .- Người cầm mâu thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 99 .- Người cầm dao thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 100.- Người che dù thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói các giới phải học. Nay xin hỏi chư đại đức, trong các giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong các giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.9 Bảy Pháp Diệt Tránh
Bạch chư đại đức, 7 pháp diệt tránh – Adhikaranasamatha (126) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Nếu các Tỳ kheo có sự tranh cãi nổi lên thì phải diệt trừ liền.
Thứ 1 .- Đáng cho hiện tiền tì ni thì nên cho hiện tiền tì ni. Thứ 2 .- Đáng cho ức niệm tì ni thì nên cho ức niệm tì ni. Thứ 3 .- Đáng cho bất si tì ni thì nên cho bất si tì ni. Thứ 4 .- Đáng cho tự nói xử trị thì nên cho tự nói xử trị. Thứ 5 .- Đáng cho xét tìm tội tướng thì nên cho xét tìm tội tướng. Thứ 6 .- Đáng cho nhiều người xét tìm thì nên cho nhiều người xét tìm. Thứ 7 .- Đáng cho như cỏ che đất thì nên cho như cỏ che đất.
Bạch chư đại đức, tôi đã nói 7 pháp diệt tránh. Nay xin hỏi chư đại đức, trong 7 pháp ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại đức, trong 7 pháp ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.10 Lời Kết Thúc
Bạch chư đại đức, tôi đã nói lời nói đầu của Giới kinh, đã nói 4 giới ba-la-di, đã nói 13 giới tăng-già bà-thi-sa, đã nói 2 giới bất định, đã nói 30 giới ni-tát-kỳ ba-dật-đề, đã nói 90 giới ba-dật-đề, đã nói 4 giới ba-la-đề-xá-ni, đã nói 100 giới chúng học, đã nói 7 pháp diệt tránh. Tất cả giới điều như vậy là Giới kinh Phật dạy, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Còn những Phật pháp khác nữa thì, với những Phật pháp ấy, hãy chung cùng hòa hợp mà học.
-oOo-
IV. Phần Cuối Tỳ kheo Giới
Đức tính nhẫn nhục là đạo bậc nhất, Phật nói vô vi là pháp tối thượng; là người xuất gia mà bức não người, thì không được gọi là bậc sa môn.
Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Tỳ-bà-thi, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri.
Ví dụ như người có đôi mắt sáng, mới có khả năng tránh đường hiểm nghèo; thế giới mà có những người thông minh, thì có khả năng xa rời điều ác.
Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Thi-khí, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri.
Không hề phỉ báng cũng không ganh ghét, và hãy kính cẩn tuân hành giới pháp, bằng cách ăn uống cũng biết vừa đủ, thường thường thích thú ở chỗ thanh vắng, tâm trí định tĩnh ưa thích tinh tiến, đó là những điều chư Phật huấn dụ.
Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Tỳ-diệp-la, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri.
Ví như loài ong hút lấy mật hoa, thì không thương tổn sắc hương của hoa, mà chỉ hút lấy cái vị mật ngọt, Tỳ kheo cũng vậy, đi vào làng xóm, thì không can dự công việc người khác, không nhìn đáng làm hay không đáng làm, mà chỉ tự nhìn bản thân mà đi coi có ngay thẳng hay không ngay thẳng.
Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Câu-lưu-tôn, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri.
Tâm trí không nên có sự phóng dật, pháp của bậc thánh phải siêng học tập, được như thế ấy không còn lo buồn, tâm trí ổn định nhập vào niết bàn.
Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Câu-na-hàm mâu-ni, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri.
Tất cả điều ác đừng có làm đến, tất cả điều thiện kính cẩn mà làm, tự mình làm sạch tâm trí của mình, những điều như vậy là chư Phật dạy.
Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Ca-diếp, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri.
Khéo léo mà giữ miệng lưỡi lời tiếng, tự mình làm sạch tâm trí của mình, và thân thể nữa cũng đừng làm ác, đó là đường sạch của cả ba nghiệp; khả năng đạt được đường sạch như vậy, chính là đường đi của bậc đại tiên.
Bài tụng này là Giới kinh của đức Thích-ca mâu-ni, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri, thuyết ra cho chư tăng không có mọi sự tội lỗi trong 12 năm. Từ đó về sau chỉ là phân tích phong phú Giới kinh này.
Chư vị Tỳ kheo, những ai ưa thích giáo pháp và ưa thích sa môn, những ai có sự hổ thẹn lấy mình và có sự hổ thẹn với người, ưa thích học giới pháp, thì phải học các Giới kinh này.
Những người minh triết giữ được giới pháp thì thực hiện được ba thứ vui thích, một là danh thơm hai là lợi quí ba là chết rồi sinh lên chư thiên.
Cần phải cứu xét cái điều này đây, mà người có trí nên giữ giới pháp.
Giới mà trong sạch lại có tuệ giác, thì thực hiện được cái đạo bậc nhất.
Tất cả Phật đà trong thì quá khứ, cùng chư Thế tôn hiện tại vị lai, chiến thắng lo buồn là do cùng nhau tôn kính giới pháp, và chính điều này là cái nguyên tắc của chư Phật đà.
Nếu có người nào biết tự vì mình mà tìm đường đi của chư Phật đà, thì hãy tôn trọng đối với chánh pháp, đó là huấn thị của chư Như lai.
Bảy đức Phật đà là đấng Thế tôn, đã trừ diệt hết mọi thứ kiết sử, và đã thuyết ra bảy bản Giới kinh, làm cho giải thoát mọi thứ ràng buộc, làm cho nhập vào niết bàn tối thượng, ở đó vĩnh viễn diệt sạch hý luận.
Tôn trọng tuân hành Giới kinh Phật nói, cùng với giới pháp hiền thánh ca tụng, con em của Phật mà làm như vậy thì sẽ nhập vào niết bàn tịch diệt.
Khi đức Thế tôn sắp nhập niết bàn, Ngài đã nổi dậy lòng thương to lớn, chiêu tập đầy đủ chư vị Tỳ kheo, và dạy như vầy đối với giới pháp: Chư vị đừng nói Như lai nhập diệt thì không ai giữ cho người thanh tịnh; Như lai đã khéo nói ra Giới kinh, Như lai lại khéo nói ra giới pháp, dẫu rằng Như lai nhập vào niết bàn, chư vị hãy coi Giới ấy như Phật. Giới kinh tồn tại lâu dài trong đời, thì Pháp của Phật sẽ được hưng thịnh, và Pháp của Phật mà hưng thịnh lên, thì làm cho người được nhập niết bàn.
Nếu không tuân giữ giới pháp như vầy, và không đúng phép cử hành bố-tát, thì như mặt trời đến lúc lặn mất, cả thế giới này tối tăm mịt mù.
Hãy cố mà giữ giới pháp như vầy, như bò đuôi dài tiếc giữ đuôi nó, bằng cách hòa hợp tập hợp thuyết giới, đúng như Phật đà đã từng huấn dụ.
Tôi đã thành kính tụng lại Giới kinh, chư tăng cũng đã bố-tát hoàn tất.
Tôi tụng Giới kinh được bao công đức, nguyện hiến chúng sinh cùng thành Phật đạo.
V. Ghi Chú
(1) Giới kinh ở đây là Tỳ kheo giới bản. Giới kinh ở đây còn có 2 trường hợp nữa. Có trường hợp chỉ cho Tứ phần luật. Có trường hợp chỉ cho mỗi bài tụng của 7 đức Phật nói Giới kinh.
(2) Chính văn là thánh pháp tài (tài sản chánh pháp của các vị thánh), thường nói tắt là thánh tài. Thánh tài có 7 thứ, là tín, giới, tàm, quí, văn, xả, tuệ. Có 7 thứ này thì gọi là thánh nhân (kinh Niết bàn).
(3) Tỳ kheo giới có 8 loại:
1. ba-la-di (khí), có 4; 2. tăng-già bà-thi-sa (tăng tàn), có 13; 3. bất định, có 2; 4. ni-tát-kỳ ba-dật-đề (xả đọa), có 30; 5. ba-dật-đề (đọa), có 90; 6. ba-la-đề-xá-ni (hối quá), có 4; 7. thức-xoa-ca-la (học pháp), có 100; 8. diệt tránh, có 7.
Chính văn này chỉ đưa ra 3 loại là nói tắt.
(4) Dịch đúng chính văn là nói việc ấy cho tôi. Chính văn này không chỉnh. Ở đây là các đức Phật đều nói Giới kinh.
(5) Giới luật của các dị giáo, ngoại đạo.
(6) Hỏi hòa hợp trước (theo Hàm chú) thì đúng sách và đúng việc hơn.
(7) Đại khái gửi lời thưa rằng mình cũng muốn bố-tát và trong nửa tháng vừa qua mình không vi phạm giới nào.
(8) Chính văn là thời đáo, có nghĩa đến lúc, đúng lúc, thì gian thích hợp.
(9) Tác bạch thành không? (Đáp: thành), là dịch theo Tứ phần Tỳ kheo giới bản (của ngài Hoài tố) và theo thông thường. Đúng chính văn của Tứ phần luật hàm chú giới bản (của ngài Đạo tuyên, tổ sư sáng lập Luật tông) thì không có câu hỏi đáp này, tức Kiết-ma ở đây là đan bạch.
(10) Chỉ cho 37 giác phần, đặc biệt chỉ cho 8 chánh đạo.
(11) Chính văn là trì, có nghĩa nắm giữ trong trí, tức là nhớ, ghi nhận.
(12) Dịch nghĩa là khí (bị bỏ ra ngoài tăng chúng), nhưng chính nghĩa là tha thắng (bị chiến thắng).
(12b) Tăng kỳ luật nói Tỳ kheo thọ cụ túc giới trong tăng hòa hợp. Thập tụng luật nói Tỳ kheo nhập vào trong giới pháp. Ngũ phần luật nói Tỳ kheo đồng được giới pháp. Hữu bộ luật nói đồng được học xứ.
(13) Sự dâm dục, Luật gọi là phi phạn hạnh, là bất tịnh hạnh.
(14) Không được cùng tăng chúng Kiết-ma và thuyết giới.
(15) Tăng thượng mạn là chưa được mà tự cho đã được. Nhưng rồi có người sau đó được thật. Ở đây trừ là trừ người này.
(16) Dịch nghĩa là tăng tàn, là phạm những tội này còn có thể cứu vãn được nếu biết sám hối trước 20 vị Tỳ kheo, không thì cũng như phạm tội ba-la-di.
(17) Là thủ dâm.
(18) Dịch đủ là nói năng thô tục dâm đãng, tức nói về sự dâm dục, nói về những bộ phận sinh dục.
(19) Dịch đủ là khen mình để đòi nữ nhân hiến dâng sự dâm dục.
(20) Tức làm cốc, tịnh thất.
(21) Dịch đủ là làm nhà có thí chủ, làm cho mình, nhưng không thỉnh chư Tỳ kheo chỉ định nơi chỗ.
(22) Dịch đủ và sát là một cách không có căn cứ mà phỉ báng người khác phạm tội ba-la-di.
(23) Dịch sát và đủ là mượn căn cứ khác mà phỉ báng phạm tội ba-la-di.
(24) Dịch sát và đủ là phá hoại tăng hòa hợp mà chống lại sự can gián.
(25) Tăng hòa hợp là 4 vị Tỳ kheo sắp lên, cùng Kiết-ma và cùng tụng giới.
(26) Dịch đủ là hỗ trợ sự phá hoại tăng hòa hợp mà còn chống đối can gián.
(27) Dịch sát và đủ là làm hoen ố tín đồ, bị đuổi thì phỉ báng, chống đối can gián.
(28) Làm hoen ố tín đồ, chính văn là ô tha gia (làm bẩn người khác). Ô tha gia có 4 hình thức mà đứng đầu là đem vật của người này cho mà cho lại người khác, làm cho tâm lý người nào cũng không còn bình thường. Làm những việc xấu là những việc xấu dẫn ra từ sự ô tha gia.
(29) Dịch đủ là ngoan cố, chống cự chư tăng, chống đối can gián. Ngoan cố, chính văn là ác tính (tính tình ngang bướng).
(30) Sống riêng, chính văn là ba-lị-bà-sa, dịch nghĩa là biệt trú. Biệt trú là ở riêng một mình trong 1 phòng xấu, với giường nằm xấu, trong thì gian bằng thì gian che giấu (kể từ khi phạm cho đến khi phát giác).
(31) Hoan hỷ, chính văn là ma-na-đỏa, dịch nghĩa là ý hỷ. Ý hỷ là ở sát cạnh chư tăng, chân thành ân hận, làm cho chư tăng hoan hỷ mà mình cũng hoan hỷ.
(32) Trường hợp, chính văn là thời. Chính văn trọn câu này là thử thị thời (đó là thời). Tra các bộ luật khác thì Ngũ phần và Thập tụng là thị pháp ưng nhĩ (giới này phải thế), Tăng kỳ là thị sự pháp nhĩ (việc này là thế), Hữu bộ là thử thị xuất tội pháp (ấy là cách giải tội). Như vậy chữ thời ở đây có thể hiểu và dịch là trường hợp. Sau đây có tất cả 9 chữ thời như vậy nữa.
(33) Bất định là tùy sự tố giác mà định tội danh và xử trị theo 1 trong 3 tội (ba-la-di, tăng-già bà-thi-sa, ba-dật-đề) hay theo 1 trong 2 tội (trừ ba-la-di).
(34) Nữ tín đồ chánh tín Tam bảo, chấp trì ngũ giới, trí nhớ tốt và nói chắc thật.
(35) Dịch nghĩa là xả đọa, là xả thí những vật dụng dư thừa rồi sám hối, nếu không thì sẽ bị đọa lạc ác đạo.
(36) Là tăng-già-lê, uất-đa-la-tăng, an-đà-hội.
(37) Y công đức (ca-thy-na y) là y được xét thưởng sau 3 tháng an cư thanh tịnh. Ai được xét thưởng thì có 5 tháng (16/7 đến 15/12) được hưởng 5 điều Luật định.
(38) Trường y (y dài) là dài bằng 8 ngón tay và rộng bằng 4 ngón tay của Phật. Danh nghĩa (Vạn 70/346) nói trường y là y dư thừa; hễ vải dài 1 thước 6, rộng 8 tấc, thì đã gọi là trường y.
(39) Tịnh thí nghĩa là cho một cách trong sạch. Tịnh thí ở đây là Tỳ kheo có thừa những vật dụng (như y bát v/v) thì phải thí xả. Có 2 cách tịnh thí. Một là chân thật tịnh thí, là đem vật dụng thừa ra giữa chư tăng mà thí xả cho người khác. Hai là triển chuyển tịnh thí, là thí xả giữa chư tăng mà nói tên người mình muốn cho. Nếu người ấy vắng mặt thì chư tăng nói: Đại đức đã cho người ấy rồi thì đó là vật của người ấy; đại đức nên cất giữ giúp người ấy, và nếu cần thì mượn mà dùng.
(39b) Có bản chép: ngủ khác chỗ trong 1 đêm. Nhưng tra Tứ phần luật (Chính 22/603d) thì đúng như bản Đạo tuyên chép: không có những chữ trong 1 đêm.
(40) Kiết-ma, dịch nghĩa là tác pháp biện sự. Việc gì của tăng cũng phải do chư tăng quyết định mới thành tựu, đó gọi là Kiết-ma. Kiết-ma có đan bạch, bạch nhị và bạch tứ. Đan bạch là gặp những việc quá thường xuyên thì chỉ cần 1 lần tuyên cáo (tác bạch) mà thôi, không cần hỏi lại. Bạch nhị là gặp những việc hơi quan trọng, sợ xảy bất đồng ý về sau, nên phải 1 lần tuyên cáo rồi hỏi lại 1 lần. Bạch tứ là gặp những việc quan trọng thì phải 1 lần tuyên cáo rồi hỏi lại 3 lần. Tăng Kiết-ma có 4 loại, đó là 4 vị cho đan bạch, 5 vị cho bạch nhị, 10 vị cho bạch tứ, 20 vị cho sự xử tội tăng tàn. Số lượng này nhiều hơn thì được, thiếu đi thì không được.
(41) Đáng lẽ phải nói 3 y có cái cũ và hỏng. Nguyên do của giới này là vì có Tỳ kheo y tăng già lê bị cũ và hỏng.
(42) Dịch sát và đủ, là nhận y của Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình.
(43) Dịch sát và đủ, là bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến của mình giặt giúp y cũ. Y cũ là y dầu mới mặc 1 lần.
(44) Dịch sát và đủ, là xin y nơi người cư sĩ không phải thân quyến.
(45) Dịch đủ và sát, là khuyên cư sĩ thêm giá tiền may y.
(45b) Lời xin tùy ý là thí chủ có lời xin nói trước rằng người lãnh nhận muốn sao cũng được.
(46) Dịch sát và đủ, là khuyên 2 nhà tăng thêm số tiền sắm y.
(46b) Có người hiểu và dịch 2/4 màu đen, 1/4 màu trắng, 1/4 màu lẫn lộn, nhưng không thể đồng ý là vì có chữ trái chính văn, và trộn lẫn lông dê như vậy thì cũng gần như đen. Dịch đúng chính văn là như đã dịch, và trộn lẫn lông dê như vậy thì sẽ ra hoại sắc hơn.
(47) Dịch sát và đủ, là ngọa cụ dùng dưới 6 năm.
(48) Dịch sát là tọa cụ không may chồng.
(49) Dịch sát là cầm lông dê quá hạn.
(50) Dịch sát và đủ là bảo Tỳ kheo ni không phải thân quyến giặt giúp lông dê.
(51) Dịch sát là cất giữ tiền, của báu.
(52) Dịch đủ là đổi chác tiền, của báu.
(53) Chính văn là mại mãi (bán mua) thì không chỉnh.
(53b) Trường bát, có ý kiến nói là bát dư thừa.
(53c) Chính văn là tối hạ, có người hiểu là bát cuối cùng, tức cái bát không ai muốn lấy, muốn đổi, nên cái bát ấy có thể chính là cái bát mới, được đem ra xả bỏ đó. Hiểu như vậy không đúng, bởi vì giới này bên Tỳ kheo ni nói rõ là hạ tọa (người dưới).
(54) Dịch đủ là xin chỉ sợi, bảo thợ dệt không phải thân quyến của mình dệt giúp.
(55) Dịch đủ là bảo thợ dệt dệt thêm chỉ sợi.
(56) Dịch sát và đủ là cất thuốc 7 ngày dùng quá thì hạn.
(57) Dịch sát và đủ, là kiếm khăn tắm mưa trước thì hạn, dùng khăn tắm mưa trước thì hạn. Khăn tắm mưa, chính văn là vũ y hay vũ dục y (khăn tắm mưa). Chữ y trong Luật có chỗ là y, có chỗ là vải, có chỗ là khăn. Ở đây là khăn.
(58) Mùa xuân còn 1 tháng là từ 16/3 đến 15/4. Mùa xuân còn nửa tháng là 1/4 đến 15/4. Trước kiết hạ hơn 1 tháng là trước 16/3. Trước kiết hạ hơn nửa tháng là trước 1/4. Tất cả đều là âm lịch.
(59) Dịch đủ và sát là trước ngày hết kiết hạ nhận y cúng gấp mà cất quá sau ngày hết kiết hạ.
(60) Dịch sát là 10 ngày chưa hết của 3 tháng kiết hạ; 10 ngày ấy là từ 6/7 đến 15/7.
(61) Thì hạn của y ấy, y ấy là y cúng vội vàng nói trên; thì hạn của y ấy là 1 tháng (16/7 đến 15/8) nếu không thọ công đức y, hoặc 5 tháng (16/7 đến 15/12) nếu có thọ công đức y.
(62) Dịch sát và đủ là ở chỗ a lan nhã có sự nghi ngại mà rời y quá thì hạn.
(63) Là rằm tháng 7 đến rằm tháng 8.
(64) A-lan-nhã là chỗ thanh vắng, xa làng xóm.
(65) Nói rõ là xoay vật người ta muốn cúng cho chư tăng mà cúng cho mình.
(66) Ba-dật-đề dịch nghĩa là đọa, là phạm những giới này nếu không sám hối giữa chư tăng thì sẽ bị đọa lạc.
(67) Biết ở đây là nói tắt mọi sự thấy nghe hay biết của 6 thức.
(68) Thành phần, chính văn là chủng loại, chỉ cho giai cấp, dòng họ, nghề nghiệp, v/v. Chưởi mắng ở đây bao gồm mọi sự nói hành, nói lóng, nói mỉa, v/v.
(69) Nói để ly gián, chính văn là lưỡng thiệt ngữ.
(70) Dịch đủ là ngủ cùng một nhà với nữ nhân.
(71) Dịch đủ là ngủ quá thì hạn với người chưa thọ cụ túc giới.
(72) Dịch đủ là cùng đọc tụng một cách ồn náo với người chưa thọ cụ túc giới.
(73) Dịch đủ là thật đắc đạo mà nói với cư sĩ.
(74) Dịch đủ là một mình thuyết pháp cho nữ nhân.
(75) 5, 6 lời, cũng có thể dịch là pháp số 5 (như nói 5 uẩn vô ngã) và pháp số 6 (như nói 6 thức vô thường).
(76) Cây cối là chỗ ở của quỉ thần và sinh vật, nên những chữ chặt phá cây cối và sinh vật là bổ túc.
(77) Dịch đủ là trải đồ của chư tăng ra trên mặt đất trống.
(78) Giường giây là lòng giường đan sợi mây hay bất cứ sợi gì. Có chỗ giường giây là võng.
(79) Dịch đủ là trải đồ của chư tăng chỗ che.
(80) Dịch sát là cưỡng chiếm chỗ mà trải đồ ngồi. Chữ đồ ngồi không chỉnh.
(81) Dịch đủ là thuyết pháp cho ni đến trời tối.
(82) Dịch đủ là đem y cho ni không phải thân quyến của mình.
(83) Dịch đủ là may y cho ni không phải thân quyến của mình.
(84) Dịch đủ và rõ, là nhận quá giới hạn đồ ăn của qui phụ và thương gia.
(85) Phép ăn thừa (dư thực pháp) là, ví dụ Tỳ kheo mới ăn mà có việc đứng dậy, thì như thế là kể như ăn xong rồi. Vậy nếu cần ăn thêm thì phải làm phép ăn thừa, là đem đồ mình muốn ăn dọn cho một vị nào chưa ăn và nói, kính bạch đại đức, tôi là Tỳ kheo XX, đến trước đại đức làm phép ăn thừa, xin đại đức từ mẫn cho. Vị này xúc ăn vài muổng rồi trao lại, bảo ăn đi.
(86) Không phải giờ ăn (phi thời) là kể từ xế bóng ngày trước cho đến ngày sau trời chưa sáng.
(87) Dịch rõ là ăn thức ăn mà mình không hay chưa nhận lời mời.
(88) Dịch rõ là thức ăn và thuốc mà mình không hay chưa nhận lời mời mà đã bỏ vào miệng. Thuốc ở đây là sữa, mật, v/v.
(89) Dịch đủ thì còn có cá và thịt. Ấy là thức ăn tùy thí tùy thực (cho gì ăn nấy).
(90) Dịch rõ là bữa ăn trước hay bữa ăn sau đều bỏ mà đi đến nhà khác. Bữa ăn trước là khi trời sáng cho đến giờ ngọ, bữa ăn sau là giờ ngọ.
(91) Dịch rõ là tại nhà ăn mà ngồi dai
(92) Nhà ăn (thực gia) và vật báu ở đây có cái nghĩa riêng ở đây, không phải cái nghĩa thông thường. Nghĩa thông thường thì nhà ăn là nhà mời ăn, vật báu là vàng ngọc (hoặc nói bóng người đẹp). Nhưng nghĩa ở đây thì nhà ăn là nhà có chồng vợ, ăn là chồng vợ ấy hành dâm hưởng lạc với nhau. (và vật báu có thể chỉ có nghĩa trong nhà ấy có chỗ cho vợ chồng hành dâm). Trong nhà ăn có vật báu như vậy mà họ mời ăn rồi không đi ngay thì rất chướng ngại cho họ, nhất là cho người chồng.
(93) Dịch rõ là tại nhà ăn mà ngồi chỗ khuất.
(94) Dịch rõ và đủ là một mình ngồi với nữ nhân ở chỗ đất trống.
(95) Dịch đủ là ở lại trong quân đội quá thì hạn.
(96) Dịch đủ và rõ, là y mình đã tịnh thí, rồi lấy lại dùng mà không nói cho người chủ của y được cho biết.
(97) Dịch đủ là gây thắc mắc, bực mình cho Tỳ kheo khác.
(98) Dịch đủ là độ cho người thiếu tuổi được thọ cụ túc giới.
(99) Dịch rõ là khơi lại 4 sự tranh cãi. Sự tranh cãi có 4, đó là 1, ngôn tranh, là tranh cãi vì bàn luận giới pháp; 2, mích tranh, là tranh cãi vì xoi bói tội lỗi; 3, phạm tranh, là tranh cãi về tội lỗi đã phạm; 4, sự tranh, là tranh cãi về công việc Kiết-ma. Cả 4 sự tranh cãi đều phải diệt bằng 7 cách diệt tránh. Khi Kiết-ma diệt tránh rồi mà ai còn gợi lại thì phạm ba-dật-đề.
(100) Dịch đủ là chống lại sự can gián của chư tăng về sự nói càn rằng dâm dục không chướng ngại cho đạo.
(101) Dịch rõ là hùa theo Tỳ kheo bị cử tội.
(102) Dịch rõ là hùa theo sa-di bị đuổi.
(103) Dịch rõ là sợ bị cử tội nên nói trước (về giới điều mình phạm).
(104) Dịch rõ là hối tiếc sau khi cùng chúng Kiết-ma.
(105) Dịch đủ là lén nghe về 4 sự tranh cãi.
(106) Dịch sát là đánh Tỳ kheo lớn.
(107) Dịch rõ là phỉ báng người khác phạm tội tăng tàn.
(108) Dịch sát và đủ là không phải lúc mà đi vào xóm làng.
(109) Dịch đủ là dùng đâu-la độn nệm. Đâu-la là bông của mọi thứ cây cỏ (trong đó có bông gòn, bông vải) và kén tằm hoang.
(110) Dịch đủ là làm ống đựng kim bằng xương, nanh, sừng.
(111) Dịch đủ là làm “ni sư đàn” quá cỡ. Ni sư đàn là ngọa cụ (đồ nằm) tọa cụ (đồ ngồi) hay tùy tọa y (khăn để ngồi), nhưng dịch đúng là phu cụ (đồ trải ra để nằm ngồi).
(112) Dịch đủ là làm khăn che ghẻ quá cỡ.
(113) Dịch nghĩa là “hướng bỉ hối”, là những giới điều mà phạm vào chỉ cần sám hối với 1 Tỳ kheo khác.
(114) Dịch đủ là ở trong làng xóm, nhận lấy đồ ăn của Tỳ kheo ni không phải thân quyến.
(115) Dịch đủ là ăn đồ ăn do ni chỉ bảo.
(116) Chính văn là canh, nhưng rõ ràng chữ ấy, ở đây và sau đây, là đồ ăn, chứ không phải là canh như thường nói. Do vậy, chữ canh ấy được dịch là đồ ăn.
(117) Dịch sát là nhận đồ ăn của học gia. Học gia là tín đồ hy sinh cho đạo pháp đến nỗi phải nghèo thiếu. Đối với tín đồ như vậy, chư tăng phải Kiết-ma là học gia, chư tăng không được đến tín đồ ấy khất thực hay quyên góp gì nữa, trái lại còn giúp đỡ bằng cách đi khất thực rồi về nhà tín đồ ấy mà ăn để chia bớt cho họ, hoặc giao tài sản Tam bảo cho tín đồ ấy sinh lợi rồi chia một nửa lợi tức ấy cho họ. Tỳ kheo nào đến đâu cũng phải hỏi ở đó có học gia không kẻo phạm giới này, cũng như phải hỏi ở đó có hay không có chỗ phú bát (nhà có lỗi với chư tăng, chư tăng Kiết-ma không liên lạc với, cho đến khi biết hối lỗi).
(118) Dịch rõ là ăn ở chỗ vắng vẻ, đáng sợ.
(119) Phải học (ưng đương học), chính văn của Tứ phần luật hàm chú giới bản là thức xoa ca la ni. Khác với 6 loại trước, loại thứ 7 này chính văn sách ấy chỉ tiêu đề có 54 giới, 46 giới còn lại không có tiêu đề (mặc dầu mục lục tiêu đề đủ cả 100 giới). Vì vậy tôi quyết định lấy chính văn của Tứ phần luật Tỳ kheo giới bản (của ngài Hoài tố) mà thay vào. Chính văn sách này không dùng chữ thức xoa-ca-la ni, mà dùng chữ chúng học pháp, ưng đương học, và không tiêu đề ghi số gì cả. Số tôi ghi là của Tứ phần luật hàm chú giới bản.
(119b) Dịch sát chính văn là mặc niết-bàn-tăng. Niết-bàn-tăng là nivasana (hoặc kusulaka), là quần, tức tấm vải quấn phần dưới thân thể như chư tăng Nam tông. Quần như vậy quấn mặc và buộc bằng giây, hơi khó làm và giữ cho tề chỉnh. Tôi dịch thẳng là quần mà bỏ chữ niết-bàn-tăng, vì chữ này xúc phạm đến Niết bàn và đến Tăng quá.
(120) Xuống dòng như vầy là có ý sắp loại các giới điều này.
(121) Chú thích: để khỏi rơi đồ ăn xuống.
(122) Coi lại ghi chú 116.
(123) Chú thích: ăn không tuần tự là ngay trong bát mà đã lấy ăn lung tung.
(124) Dịch theo chú thích là một nửa vào miệng một nửa còn lại nơi tay.
(124b) Dịch đủ là nhai cơm. Nhưng đủ mà thiếu. Bất cứ nhai gì cũng không được ra tiếng, không phải chỉ nhai cơm.
(125) Có lẽ phải dịch là cầm đồ mà thôi (đồ đựng thức ăn thức uống).
(126) Là 7 cách diệt trừ sự tranh cãi. Phần này cũng lấy chính văn của Tứ phần luật Tỳ kheo giới bản. Về 7 cách diệt tránh này, nếu chư tăng có sự tranh cãi (coi ghi chú 99) thì phải dập tắt bằng 7 cách ấy. Nói đại khái và giản dị, thì một thành phần chư tăng có lỗi, nhất là lỗi ấy gây ra tranh cãi, thì hãy diệt sự tranh cãi ấy bằng cách cho hiện diện, cho nhớ lại, cho tỉnh trí, cho tự xử, cho tự xét, cho chung xét và cho qua loa. Nghĩa là bằng cách nào đó có lý có tình mà đem lại sự phục thiện và hoan hỷ là tốt. Giới của 7 cách này là sau khi diệt tránh bằng 7 cách rồi, ai còn khơi lại thì phạm tội và bị trị. Ký hiệu:
– Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu. Ký hiệu là Chính, thí dụ Chính 1/100, là Đại tạng ấy, tập 1, trang 100. Mỗi trang có 3 khoảng trên giữa dưới, nhưng sách này không ghi rõ khoảng ấy và dòngchữ.
– Tục tạng kinh bản chữ Vạn. Ký hiệu là Vạn, thí dụ Vạn 1/100 là Tục tạng ấy, tập 1 tờ 100. Mỗi tờ có 2 mặt a và b, mỗi mặt có 2 khoảng trên dưới, nhưng sách này cũng không ghi rõ những chi tiết ấy.
– Phật học đại từ điển của Đinh Phước Bảo. Ký hiệu là Bảo, thí dụ Bảo 100, là đại từ điển ấy, trang 100. Mỗi trang có 3 khoảng trên giữa dưới, và dĩ nhiên có từ. Nhưng sách này cũng không ghi những chi tiết ấy.
– Phật học nghiên cứu thập bát thiên, của Lương Khải Siêu. Sách có 18 bài. Ký hiệu là Siêu, thí dụ Siêu 1/10, tức sách ấy, bài 1 trang 10.
Ghi sau khi duyệt Tỷ-Kheo Ni Giới
Ổn thỏa nhất là những gì cần làm cho Tỳ kheo giới và Tỳ kheo ni giới thì nên làm chung. Nhưng làm cho Tỳ kheo giới rồi tôi mới phát nguyện làm cho Tỳ kheo ni giới. Do đó, Tỳ kheo ni giới không có một ít điều tôi đã làm cho Tỳ kheo giới. Ngay lời ghi này cũng vậy. Những gì cần ghi, tôi đã ghi bên Tỳ kheo giới. Luật không ngăn cản Tỳ kheo coi Tỳ kheo ni giới hay ngăn cản Tỳ kheo ni coi Tỳ kheo giới. Vậy những gì bên Tỳ kheo giới, chư vị Tỳ kheo ni có thể thẩm cứu.
Dầu vậy, ở đây tôi muốn ghi về sự ăn thịt cá mà Tỳ kheo ni giới không dịch lược đi được. Mở rộng vấn đề một chút là nói về sự ăn chay ăn mặn.
Nguyên thỉ Phật giáo – mà cái này mới chắc là nguyên thỉ – thì “tùy thí tùy thực” (cho gì ăn nấy). Nếu tôi nhớ không lầm, thì trước thời Phật, các triết gia U-pa-ni-sát đã ăn chay. Và ăn một cách nghiêm khắc, cái ăn đó có gây phiền phức. Cái ăn đó là một cực đoan. Rồi khi chống lại Phật, muốn lập Phật giáo riêng, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) đưa ra 5 sự, trong đó “thứ 5 là suốt đời không ăn thịt cá máu mỡ bơ sữa” (Bà-sa 116, Phật học đại từ điển trang 533 dẫn). Thế đó lại càng là cực đoan. Bây giờ ta giả thiết bên ăn chay đòi cho được đồ chay, bên ăn mặn đòi cho được đồ mặn, thì thế chính là cực đoan, gây bao phiền phức cho người cho.
Phật không như vậy. Phật thì tăng ni đến gần giờ ăn mới đi khất thực. Khất thực thì ngay bữa ăn của người cho, họ bớt ra mà cúng dường. Bữa ăn của họ có gì, họ cúng dường cũng cái đó. Khất thực không đòi cho được đồ chay hay đồ mặn. Do vậy mà trong luật mới có giới điều nói về sự ăn cá thịt.
Đại thừa thì khác. Hãy gác vấn đề đại thừa có phải cũng là Phật giáo nguyên thỉ không, chỉ nói đại thừa cấm tuyệt sự ăn mọi thứ thịt, với ý thức ăn thịt là phản Phật tánh, là phi từ bi. Và sự cấm ăn thịt này thực sự tuyệt đối, cấm như sắc lịnh là bởi Lương vũ đế. Ngày nay nói Phật giáo là nói ăn chay. Ăn có thịt cá trở thành lạ lùng, khó nghe và khó coi.
Ghi như trên đây là để giải thích sự ăn có cá thịt trong Luật, cho thấy Phật tử phải ăn chay là vì sao.
Mười hai tháng 5, PL 2537 (TL 1993) Trí Quang
I. Tựa
Sau khi dịch Tỳ kheo giới rồi, để cầu siêu nhân kỳ mẹ tôi, tôi phát ra cái ý dịch luôn Tỳ kheo ni giới và Thức-xoa-ma-na ni giới. Trước đây tôi đã dịch Sa-di giới (Sa-di luật nghi yếu lược) và Sa-di ni giới (Sa-di ni luật nghi yếu lược). Bồ-tát giới thì đã được dịch lại, và lược giải khá kỹ, năm 2531 (1987). Như vậy là tất cả giới luật của 5 chúng xuất gia đã dịch xong.
Tỳ kheo ni giới, khi tôi dịch, chỉ tìm thấy 3 bản. Bản 1 mang số 1481 của Đại tạng kinh bản Đại chính, do ngài Hoài tố biên tập. Bản 2 của ngài Nguyên chiếu, nằm trong Tục tạng kinh bản chữ Vạn, tập 64 các trang 1-12. Bản 3 là giới kinh thường tụng nếu tụng Hoa văn, do Phật giáo Bắc tông khắc và ấn hành. Cả 3 bản, không có bản nào được như Tứ phần luật hàm chú giới bản của Tỳ kheo giới, nên tôi chọn bản thường tụng làm chính văn.
Tài liệu tham khảo thì ngoài phần chính là Tứ phần luật (các cuốn 22-30), còn có những tài liệu sau đây: Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích (gọi tắt là Danh nghĩa), bộ này đích xác là tự điển và từ điển của Tứ phần luật, nằm trong Vạn 70/201-501; Trùng trị, phần Tỳ kheo ni giới (Vạn 63/292-307); Tỳ kheo giới, bản dịch của tôi; Một bản dịch Tỳ kheo ni giới không thấy tư tên người dịch.
Tỳ kheo ni giới không có cái phước được chính ngài Đạo tuyên làm việc cho, như cuốn Tứ phần luật hàm chú giới bản.
Trong cách dịch của tôi nên nói về tên của các giới điều. Bởi thấy đa số tên ấy tóm tắt và nêu lên ý chính, nên tôi dịch và để trước các giới điều. Thế nhưng đến loại 6 và loại 7, tác dụng ấy không có bao nhiêu nên tôi không dịch nữa.
Nay nên nói nội dung của Tỳ kheo ni giới, bằng cách đối quán sơ lược với nhau giữa 5 bản Tỳ kheo ni giới của 5 bộ luật. Tỳ kheo ni giới có 7 loại. Trong đó, loại một là khí, thì 5 bộ luật đồng nhau; loại hai là tăng tàn, thì Tăng-kỳ có 19, Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 17, Hữu bộ có 20; loại ba là xả đọa, thì Tăng-kỳ, Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 30, Hữu bộ có 33; loại bốn là đọa, thì Tăng-kỳ có 141, Ngũ phần có 210, Thập tụng có 178, Tứ phần có 178, Hữu bộ có 180; loại năm là hối quá, thì Tăng-kỳ, Ngũ phần, Thập tụng và Tứ phần đều có 8, Hữu bộ có 11; loại sáu là học pháp, thì Tăng-kỳ có 65, Ngũ phần và Tứ phần đều có 100, Thập tụng có 107, Hữu bộ có 42; loại bảy là diệt tránh, thì 4 bộ đều có 7, trừ Ngũ phần không có.
Bây giờ nói về đại thể của Tỳ kheo ni giới. Đại thể ấy có 2 phần: phần 1 là giới luật, phần 2 là oai nghi. Phần 1 là những giới điều cấm tội lỗi thật sự, phần 2 là những giới điều cấm cử động bất xứng. Tức như loại khí có thể nói là giới luật cả, loại học pháp có thể nói là oai nghi cả. Còn các loại khác thì có giới là giới luật, có giới là oai nghi, có giới là cả hai. Tất cả giới luật và oai nghi như vậy tạo thành một bậc Chúng trung tôn.
Đến đây hãy nêu lên mấy điều. Một, “ngôn ngữ của giới này ai nghe thì đừng kinh quái, phát ngượng, mà phải nghĩ đến ơn Phật, đã ly ái nhiễm, đã đắc thanh tịnh, nhưng vì chúng ta nên kiết giới với những lời chữ không phải mỹ từ” (Thiện kiến, Vạn 64/1 dẫn). Hai, về trường hợp có ra giới pháp thì đời Phật, tập thể Tỳ kheo ni cũng không ít, vậy mà chỉ có 6 bà gọi là “lục quần Tỳ kheo ni”, và năm ba vị nữa, có những cử động bất xứng, chứng tỏ tập thể Tỳ kheo ni ấy xứng đáng không ít. Ba, số lượng của giới điều thật ra cũng không nhiều lắm, dò kỷ sẽ thấy con số 348 có thể qui nạp còn quá nửa mà thôi. Bốn, giới điều nhiều đến mấy đi nữa mà, như Tứ phần luật nói, hễ có thiểu dục tri túc (kèm theo là tàm quí) thì giữ được hết cả, kể cả khai giá (linh động và hạn chế) của mỗi giới điều cũng thấy ra và giữ trọn.
Ai cũng có cái hảo tâm xuất gia ban đầu. Ai đứng trước Phật cũng muốn mình xứng đáng với Ngài. Nhưng chỉ có giới luật mới làm mình xứng đáng với Phật và không phụ hảo tâm của mình.
Mồng 7 tháng 6, PL 2535 (TL 1991) Trí Quang
II. Phần đầu Tỳ kheo Ni Giới
Cúi đầu kính lạy chư Phật, Phật pháp và Tỳ kheo tăng. Nay tụng Giới kinh (1) là để làm cho Phật pháp thường còn.
Giới như biển cả không có bờ mé, lại như ngọc báu cầu hoài không chán. Muốn giữ tài sản của các Thánh giả (2) , đại chúng họp lại nghe tôi tụng Giới.
Muốn trừ bốn thứ gọi là tội khí, muốn diệt mười ba tội lỗi tăng tàn, muốn ngăn ba mươi tội lỗi xả đọa (3) , đại chúng họp lại nghe tôi tụng Giới. Đức Tỳ-bà-thi cùng đức Thi-khí đức Tỳ-xá-phù đức Câu-lưu-tôn đức Câu-na-hàm cùng đức Ca-diếp và đức Thích-ca, chư Phật như vậy đã thuyết Giới kinh (4) , nay tôi tụng lại Giới kinh như vậy, đại chúng cùng nghe.
Ví như có người chân đã thương tổn thì không thể nào tự đi đến đâu, người nào phá giới thì cũng như vậy không thể sinh trong chư thiên nhân loại.
Muốn sinh chư thiên hay sinh nhân loại, thì phải giữ lấy đôi chân giới pháp, đừng để có điều vi phạm thương tổn.
Như người đánh xe đi vào đường hiểm thì lo xe ấy rơi chốt gãy trục, người mà phá giới thì cũng như vậy, đối diện cái chết lòng đầy lo sợ.
Như người soi gương thấy đẹp thì thích thấy xấu thì rầu, tụng giới cũng vậy giới toàn thì mừng giới hỏng thì lo.
Hai quân đánh nhau ai gan thì tiến ai khiếp thì thoái, tụng giới cũng vậy trong sạch: yên tâm dơ bẩn: lo sợ
Trong cả mọi người vua là hơn hết, trong các dòng nước biển là hơn hết, trong các sao đêm trăng là hơn hết, trong các vị thánh Phật là hơn hết, trong các giới luật (5) Giới kinh hơn hết, nên đức Thế tôn đã qui định rằng cứ mỗi nửa tháng phải tụng một lần.
Tăng tập hợp chưa? Đáp: tăng đã tập hợp .
Tăng hòa hợp không? Đáp: tăng hòa hợp .
Người chưa thọ đại giới đã ra chưa? Nếu có thì bảo ra và đáp: người chưa thọ đại giới đã ra; nếu không thì đáp: trong đây không có người chưa thọ đại giới.
Các vị Tỳ kheo ni không đến đây có nói dữ dục và thanh tịnh (6) không? Nếu có thì đáp có và thưa đúng cách, nếu không thì đáp trong đây không có người nói dữ dục và thanh tịnh.
Hôm nay tăng hòa hợp để làm gì? Đáp: để kiết-ma tụng giới.
Đại tỷ tăng nghe cho, hôm nay là ngày 15, ngày tăng bố-tát tụng giới, nếu tăng thấy đến lúc (7) , tăng chấp thuận, thì hòa hợp bố-tát tụng giới. Xin tác bạch như vậy. Tác bạch thành không? Đáp: thành.
III. Tỳ kheo Ni Giới
III.1 Lời Mở Đầu
Bạch chư đại tỷ, nay tôi sắp tụng Ba-la-đề-mộc-xoa. Chư vị Tỳ kheo ni cùng tập hợp một chỗ. Chư vị hãy lắng, và nhớ nghĩ cho khéo. Nếu tự biết có phạm giới thì phải tự sám hối, không phạm giới thì hãy im lặng. Vì im lặng mà biết chư đại tỷ thanh tịnh. Nếu có ai hỏi thì cũng trả lời như vậy. Thế nên vị Tỳ kheo ni ở trong đại chúng được hỏi đến lần thứ 3 và nhớ nghĩ mình có tội mà không phát lộ, thì bị tội cố ý nói dối. Mà nói dối thì Phật đã dạy là sự cản trở thánh đạo (8) . Nếu vị Tỳ kheo ni nhớ nghĩ mình có tội và muốn được thanh tịnh thì phải sám hối. Sám hối thì yên vui.
Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói lời nói đầu của Giới kinh. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong lời nói đầu ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong lời nói đầu ấy chư vị thanh tịnh cả, vì chư vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc (9) như vậy.
III.2 Tám Giới Khí
Bạch chư đại tỷ, 8 giới ba-la-di – Parajika (10) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Thứ 1, giới làm sự bất tịnh.- Nếu Tỳ kheo ni dâm dục, phạm vào sự bất tịnh (11) cho đến cùng với súc vật, thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung (12) với chư tăng.
Thứ 2, giới lấy của không cho.- Nếu Tỳ kheo ni ở trong xóm làng hay nơi vắng vẻ, lấy của người ta không cho với ý thức ăn trộm; tùy tội lấy của không cho mà bị vua, hay đại thần của vua, bắt, giết, trói, đuổi ra khỏi xứ, mắng rằng chị là giặc, chị ngu si, chị không biết gì. Nếu Tỳ kheo ni làm sự lấy của không cho như vậy thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 3, giới sát hại mạng người.- Nếu Tỳ kheo ni cố ý tự tay sát hại mạng người, hoặc cầm dao đưa cho người, hoặc khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, rằng quái lạ, người kia, sống khốn nạn như vậy làm gì, thà chết, đừng sống; với ý thức như vậy mà nghĩ mọi cách để khen ngợi sự chết, khuyến khích sự chết, thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 4, giới vọng ngữ loại lớn.- Nếu Tỳ kheo ni thật không biết gì mà tự khen tôi được pháp của bậc thượng nhân, tôi đã nhập vào pháp siêu việt của thánh trí, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy; qua thì gian khác, hoặc được hỏi hoặc không được hỏi, mà muốn tự thanh tịnh nên nói rằng, các đại tỷ, tôi thật không biết không thấy gì mà nói biết nói thấy, vọng ngữ dối trá, thì, trừ tăng thượng mạn, phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng.
Thứ 5, giới nhiễm tâm xoa chạm.- Nếu Tỳ kheo ni tâm ô nhiễm, cùng với người nam tâm ô nhiễm, từ kẻ nách sắp xuống, từ đầu gối trở lên, hai thân thể chạm nhau, hoặc bóp hoặc xoa, hoặc kéo hoặc đẩy, hoặc xoa trên hoặc xoa dưới, hoặc bồng lên hoặc bế xuống, hoặc nắm hoặc bóp mạnh, thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ thân thể chạm nhau.
Thứ 6, giới nhiễm tâm tám sự.- Nếu Tỳ kheo ni tâm ô nhiễm, biết người nam cũng tâm ô nhiễm, mà chịu cho nắm tay, nắm áo, vào chỗ khuất, đứng chung, nói chung, đi chung, thân thể dựa nhau, cùng nhau hẹn hò (13) , thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ phạm vào tám sự.
Thứ 7, giới giấu cho tội nặng.- Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo ni khác phạm ba-la-di mà mình không phát lộ, không nói với Tỳ kheo ni khác, không thưa với đại chúng; qua thì gian khác, Tỳ kheo ni phạm tội hoặc chết, hoặc bị đại chúng cử tội, hoặc thôi tu, hoặc theo ngoại đạo, Tỳ kheo ni ấy bấy giờ mới nói, rằng trước đây tôi biết người này có tội như vậy như vậy, thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ che giấu tội nặng.
Thứ 8, giới theo kẻ bị cử.- Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo bị chư tăng cử tội một cách đúng giáo pháp, đúng giới luật, đúng Phật huấn dụ, nhưng Tỳ kheo kia không phục tùng, không sám hối, và chư tăng chưa làm kiết-ma sống chung cho. Vậy mà Tỳ kheo ni ấy thuận tùng Tỳ kheo kia. Các Tỳ kheo ni can gián, rằng đại tỷ, Tỳ kheo kia bị chư tăng cử tội một cách đúng giáo pháp, đúng giới luật, đúng Phật huấn dụ, nhưng Tỳ kheo kia không phục tùng, không sám hối, và chư tăng chưa làm kiết-ma sống chung cho, thì đại tỷ đừng thuận tùng. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ hai và lần thứ ba, vì để cho Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ ba mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì phạm ba-la-di của Tỳ kheo ni, không còn được sống chung với chư tăng, vì lẽ phạm vào sự thuận tùng kẻ bị chư tăng cử tội (14) . Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 8 giới ba-la-di. Nếu Tỳ kheo ni phạm vào mỗi một ba-la-di, thì không còn được sống chung với chư Tỳ kheo ni. Như khi chưa thọ đại giới, thọ đại giới rồi mà vi phạm thì cũng vậy. Nên Tỳ kheo ni bị tội ba-la-di thì không nên sống chung với chư tăng. Vậy nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 8 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 8 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.3 Mười Bảy Giới Tăng Tàn
Bạch chư đại tỷ, 17 giới tăng-già bà-thi-sa – Sanghadisesa (15) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Thứ 1, giới làm người mai mối.- Nếu Tỳ kheo ni làm mai mối, đem lời người nam nói với người nữ, đem lời người nữ nói với người nam, để làm cho họ lấy nhau hay tư thông với nhau, thì, dầu chỉ chốc lát, Tỳ kheo ni ấy cũng phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm (16) .
Thứ 2, giới vu khống phỉ báng.- Nếu Tỳ kheo ni vì tức giận, không hoan hỷ, nên, một cách vô căn cứ, phỉ báng vị khác phạm tội ba-la-di, phỉ báng với ý thức muốn phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; rồi trong thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo ni ấy biết đó là sự phỉ báng vô căn cứ, và nói rằng vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 3 giới xuyên tạc phỉ báng.- Nếu Tỳ kheo ni vì tức giận, không hoan hỷ, nên lấy một cạnh khía của việc khác, đối với vị Tỳ kheo ni không phạm ba-la-di mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng rằng phạm tội ba-la-di, với ý thức phá hoại sự thanh tịnh của vị ấy; đến thì gian khác, được hỏi hay không được hỏi, Tỳ kheo ni ấy biết mình lấy một cạnh khía của việc khác, tự nói vì tôi tức giận nên phỉ báng như vậy, thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 4, giới đến quan thưa kiện.- Nếu Tỳ kheo ni đến quan thưa kiện cư sĩ hay con cư sĩ, tôi tớ hay người làm thuê, thưa kiện một ngày, một đêm, một khoảnh khắc, một khảy móng tay, một giây phút, thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 5, giới biết mà độ giặc.- Nếu Tỳ kheo ni biết trước là nữ tặc, tội đáng chết, ai cũng biết, vậy mà không hỏi vua hay đại thần, không hỏi thành phần xã hội (17) của nữ tặc, độ cho xuất gia và thọ cụ túc giới liền, thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 6, giới giải cho bị cử.- Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo ni khác bị chư tăng cử tội đúng giáo pháp, đúng giới luật, đúng Phật huấn dụ, mà không phục tùng, không sám hối, và chư tăng chưa làm kiết-ma sống chung cho; vậy mà vì tình riêng, không hỏi chư tăng, chư tăng cũng không chỉ thị, vẫn ra khỏi cương giới làm kiết-ma giải tội cho Tỳ kheo ni kia, thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 7, giới đi riêng ngủ lại.- Nếu Tỳ kheo ni một mình lội nước, một mình vào làng, một mình ngủ lại, một mình đi sau, thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 8, giới nhiễm tâm nhận ăn.- Nếu Tỳ kheo ni tâm ô nhiễm, biết người nam cũng tâm ô nhiễm, vậy mà từ người nam ấy nhận những thứ có thể ăn được, những thức ăn, những đồ vật khác, thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới phạm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 9, giới khuyên nhận nhiễm thực. (18) .- Nếu Tỳ kheo ni khuyên Tỳ kheo ni khác, bằng cách nói như vầy, đại tỷ, người nam kia có nhiễm tâm hay không nhiễm tâm thì hại gì đại tỷ. Đại tỷ bản thân không có nhiễm tâm thì nếu được thức ăn nơi người nam kia, cứ đúng thì gian thích hợp mà nhận lấy. Khuyên như vậy thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại mới làm là thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 10, giới phá tăng hòa hợp.- Nếu Tỳ kheo ni muốn phá hoại tăng hòa hợp (19) nên hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Các vị Tỳ kheo ni nên can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng phá hoại tăng hòa hợp, đừng hành động mọi cách phá hoại tăng hòa hợp, đừng chấp nhận mọi cách phá hoại tăng hòa hợp mà kiên trì không bỏ. Đại tỷ hãy cùng tăng hòa hợp; cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy (20) , như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 11, giới hỗ trợ phá tăng (21) .- Nếu Tỳ kheo ni ấy có các Tỳ kheo ni khác làm phe cánh, một người, hai người, ba người, cho đến vô số người; những Tỳ kheo ni phe cánh này nói với các Tỳ kheo ni, rằng các đại tỷ, xin đừng can gián Tỳ kheo ni ấy, Tỳ kheo ni ấy là Tỳ kheo ni nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo ni nói đúng giới luật, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi chấp nhận. Các Tỳ kheo ni nói với các Tỳ kheo ni phe cánh, rằng các đại tỷ, đừng nói như vậy, rằng Tỳ kheo ni ấy là Tỳ kheo ni nói đúng giáo pháp, Tỳ kheo ni nói đúng giới luật, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi ưa thích, Tỳ kheo ni ấy nói chúng tôi chấp nhận. Bởi vì Tỳ kheo ni ấy nói không phải nói đúng giáo pháp, không phải nói đúng giới luật. Các đại tỷ, đừng có ý muốn phá hoại tăng hòa hợp; các đại tỷ, hãy thích thú tăng hòa hợp. Các đại tỷ, hãy cùng tăng hòa hợp, hoan hỷ, không tranh chấp, cùng học một thầy, như nước với sữa hòa nhau, thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích, yên vui. Những Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 12, giới hoen ố tín đồ (22) .- Nếu Tỳ kheo ni sống trong thành thị hay xóm làng mà làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu (23) , làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Các vị Tỳ kheo ni can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe; đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu thì nay hãy đi xa khỏi xóm làng này, đừng nên ở đây nữa. Tỳ kheo ni ấy nói với các vị Tỳ kheo ni, rằng chư đại tỷ, các Tỳ kheo ni có tham, có sân, có si, có sợ; có cái việc những Tỳ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Các vị Tỳ kheo ni can rằng, đại tỷ, đừng nói như vậy, rằng các vị Tỳ kheo ni có tham, có sân, có si, có sợ, có cái việc những Tỳ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Bởi vì các vị Tỳ kheo ni không tham, không sân, không si, không sợ, không cái việc những Tỳ kheo ni đồng tội mà người bị đuổi người không bị đuổi. Đại tỷ đã làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, làm hoen ố tín đồ ai cũng thấy nghe, làm những việc xấu ai cũng thấy nghe. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 13, giới ngoan cố chống cự.- Nếu Tỳ kheo ni tính tình ngoan cố, không nghe ai hết; trong giới luật, các vị Tỳ kheo ni đã can gián đúng phép mà bản thân Tỳ kheo ni ấy không chịu sự can gián ấy, bằng cách nói rằng, chư đại tỷ, đừng hướng về tôi mà nói tôi tốt hay tôi xấu, tôi cũng không hướng về chư đại tỷ mà nói các vị tốt hay các vị xấu. Chư đại tỷ hãy thôi đi, đừng luôn luôn can gián tôi. Các vị Tỳ kheo ni can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng nên chính mình không chịu ai can gián. Đại tỷ nên chính mình chịu can gián. Đại tỷ hãy can gián chư Tỳ kheo ni một cách đúng phép, chư Tỳ kheo ni cũng can gián đại tỷ một cách đúng phép. Làm như vậy thì đệ tử của Phật được tăng ích nhờ can gián cho nhau, chỉ dạy cho nhau, sám hối với nhau. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 14, giới thân nhau giấu lỗi.- Nếu Tỳ kheo ni sống gần gũi với nhau mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn mà lần lượt che giấu tội lỗi cho nhau. Các Tỳ kheo ni khác nên can gián những Tỳ kheo ni ấy, rằng các đại tỷ, đừng gần gũi nhau mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn, rồi che giấu tội lỗi cho nhau. Các vị nếu không gần gũi với nhau như vậy, thì trong Phật pháp các vị sẽ được đời sống tăng ích và yên vui. Những Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để những Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì những Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 15, giới bảo đừng ở riêng.- Nếu Tỳ kheo ni khi bị Tỳ kheo ni tăng quở trách can gián, Tỳ kheo ni khác chỉ bày như vầy, đại tỷ đừng chịu sống riêng, hãy cứ sống chung. Tôi thấy có các Tỳ kheo ni không chịu sống riêng, sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn và che giấu tội lỗi cho nhau. Chư Tỳ kheo ni tăng vì tức giận nên bảo đại tỷ sống riêng mà thôi. Các Tỳ kheo ni nên can gián Tỳ kheo ni khác ấy, rằng đại tỷ chớ bảo Tỳ kheo ni ấy đừng chịu sống riêng, chớ nói tôi thấy có các vị Tỳ kheo ni sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn và che giấu tội lỗi cho nhau; chư Tỳ kheo ni tăng vì tức giận nên bảo đại tỷ sống riêng mà thôi. Nay đúng ra chỉ có 2 Tỳ kheo ni là các vị sống chung mà cùng làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn mà che giấu tội lỗi cho nhau, chứ không còn có ai khác nữa. Nếu các vị sống riêng thì trong Phật pháp các vị sẽ có đời sống tăng ích và yên vui. Tỳ kheo ni khác ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni khác ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni khác ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 16, giới giận bỏ Tam bảo.- Nếu Tỳ kheo ni vì một việc nhỏ nhặt, tức giận không vui, liền nói rằng tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng; thế gian này không phải chỉ có sa môn Thích tử, mà còn có sa môn bà la môn khác cũng tu phạn hạnh, tôi cũng có thể tu phạn hạnh với họ. Các Tỳ kheo ni hãy can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ đừng vội vàng vì một việc nhỏ nhặt, tức giận không vui mà nói liền rằng tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, thế gian này không phải chỉ có sa môn Thích tử, mà còn có sa môn bà la môn khác cũng tu phạn hạnh, tôi cũng có thể tu phạn hạnh với họ. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm.
Thứ 17, giới ưa cãi không nhớ.- Nếu Tỳ kheo ni ưa tranh cãi vì không nhớ sự việc tranh cãi, lại tức giận mà nói rằng chư tăng có tham, có sân, có si, có sợ. Các Tỳ kheo ni phải can Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng ưa tranh cãi vì không khéo nhớ sự việc tranh cãi, lại tức giận mà nói rằng chư tăng có tham, có sân, có si, có sợ. Thật ra chư tăng không tham, không sân, không si, không sợ, mà đại tỷ tự mình có tham, có sân, có si, có sợ. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không thì Tỳ kheo ni ấy phạm tăng-già bà-thi-sa, loại sau 3 lần can gián mới thành tội và phải bỏ mà đừng phạm. Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 17 giới tăng-già bà-thi-sa mà 9 giới trước thì mới phạm là thành tội, 8 giới sau thì sau 3 lần can gián mới thành tội. Nếu Tỳ kheo ni phạm mỗi một giới, thì chư tăng 2 bộ phải buộc Tỳ kheo ni ấy nửa tháng thi hành phép hoan hỷ (24) . Thi hành phép hoan hỷ rồi chư tăng giải tội cho. Phải giữa chư tăng 40 vị của 2 bộ mà giải tội cho Tỳ kheo ni ấy; nếu thiếu 1 vị, không đủ 40 vị, thì có giải tội đi nữa, tội của Tỳ kheo ni ấy cũng không giải được, mà chư tăng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (25) cũng đáng khiển trách. Đó là trường hợp (26) này. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 17 giới tăng-già bà-thi-sa ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 17 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.4 Ba Mươi Giới Xả Đọa
Bạch chư đại tỷ, 30 giới ni-tát-kỳ ba-dật-đề – Nissaggiya pacittiya (27) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Thứ 1, giới cất y quá hạn.- Nếu Tỳ kheo ni 5 y đã hoàn chỉnh, y công đức (28) đã xả, mà cất giữ trường y (29) trong 10 ngày, thì không làm tịnh thí (30) cũng được cất giữ, nhưng quá hạn ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 2, giới rời y mà ngủ.- Nếu Tỳ kheo ni 5 y (31) hoàn chỉnh, y công đức đã xả, mà trong 5 y rời 1 y ngủ khác chỗ trong 1 đêm, thì, trừ được tăng kiết-ma (32) cho phép, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 3, giới cất vải quá hạn.- Nếu Tỳ kheo ni 5 y hoàn chỉnh (33) , y công đức đã xả, nhưng Tỳ kheo ni ấy được vải phi thời, vậy cần thì cứ nhận, nhận rồi may y cho mau thành. Nếu vải đủ thì tốt, nếu vải không đủ thì được phép cất lại 1 tháng, chờ cho đủ vải. Nếu cất lại quá hạn ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 4, giới xin y không thân.- Nếu Tỳ kheo ni xin y nơi cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình, thì, trừ trường hợp khác, phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Trường hợp khác là nếu y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, như vậy gọi là trường hợp khác.
Thứ 5, giới lấy vải quá phận.- Nếu Tỳ kheo ni y bị cướp, bị mất, bị cháy, bị trôi, và nếu cư sĩ hay vợ cư sĩ không phải thân quyến của mình tự ý xin cho nhiều vải, thì Tỳ kheo ni ấy nên nhận vải ấy theo sự biết vừa đủ. Nếu nhận nhiều quá thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 6, giới xin thêm tiền y.- Nếu Tỳ kheo ni có cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền may y cho Tỳ kheo ni ấy, nói rằng sắm số tiền may y như vậy để cúng cho Tỳ kheo ni tên như vậy. Tỳ kheo ni ấy trước không có nhận lời xin tùy ý (34) , vậy mà vì muốn được y tốt nên đến nhà cư sĩ, nói như thế này: tốt lắm, cư sĩ, hãy vì tôi mà sắm giá tiền như vậy cho tôi. Như vậy mà được y thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 7, giới khuyên chung tiền lại.- Nếu Tỳ kheo ni có 2 cư sĩ và vợ cư sĩ sắm tiền mua y cho Tỳ kheo ni ấy, nói rằng chúng ta mua y như vậy để cúng cho Tỳ kheo ni tên như vậy. Tỳ kheo ni ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, vậy mà vì muốn được y tốt nên đến nhà 2 cư sĩ nói như vầy: tốt lắm, cư sĩ, hãy sắm tiền mua y như vậy, chung nhau mà mua cho tôi 1 cái y. Như vậy mà được y thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 8, giới đòi y quá hạn.- Nếu Tỳ kheo ni có vua, đại thần, bà la môn, cư sĩ và vợ cư sĩ, phái người đưa số tiền sắm y đến cho Tỳ kheo ni ấy, nói rằng hãy cầm tiền sắm y này đến đưa cho vị Tỳ kheo ni tên như vậy. Người được phái đến chỗ Tỳ kheo ni ấy, nói với Tỳ kheo ni ấy, rằng bạch đại tỷ, nay con đem tiền sắm y đến cho bà, xin bà nhận lấy. Tỳ kheo ni ấy nói như thế này với người được phái, rằng tôi không nên nhận số tiền sắm y này; nếu khi tôi cần y thì phải đúng lúc và thanh tịnh mới nhận được. Người được phái nói với Tỳ kheo ni ấy, rằng bạch đại tỷ, bà có người giúp việc không? Tỳ kheo ni ấy nói có; có người ở trong chùa kia, có người nữ cư sĩ kia, họ là những người giúp việc của các Tỳ kheo ni, thường giúp việc cho các vị. Bấy giờ người được phái đi đến nơi người giúp việc, giao số tiền sắm y, rồi trở lại chỗ Tỳ kheo ni ấy mà nói như vầy: bạch đại tỷ, người giúp việc tên như vậy, mà bà đã chỉ, con đã giao cho người ấy số tiền sắm y. Khi nào bà thấy đúng lúc thì xin bà đến người ấy, sẽ sắm được y. Tỳ kheo ni ấy khi cần y thì nên đến người giúp việc mà, lần thứ hai và lần thứ ba, nhắc cho người ấy nhớ, bằng cách nói rằng tôi cần y; nếu lần thứ hai và lần thứ ba nhắc cho người ấy nhớ mà được y thì tốt. Nếu không được y thì lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, hãy yên lặng đứng trước người ấy cho người ấy nhớ; nếu lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu, yên lặng đứng trước người ấy mà được y thì tốt. Nếu không được y mà đòi quá giới hạn nói trên để cho được y, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nếu không được y thì tự mình đi hay phái người đi, đến nơi người cho tiền sắm y mà nói, rằng trước đây người phái người đem tiền sắm y đến cho tôi, Tỳ kheo ni tên như vậy; nhưng rốt cuộc tôi không được y, vậy người hãy đi lấy về, đừng để mất đi. Đó là trường hợp có thể làm.
Thứ 9, giới cầm lấy tiền của.- Nếu Tỳ kheo ni tự tay cầm lấy bạc vàng hay tiền, hoặc bảo người cầm lấy, hoặc nhận lấy bằng cách miệng nói được (35) , thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 10, giới bán mua bảo vật (36).- Nếu Tỳ kheo ni mà bán mua các thứ bảo vật, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 11, giới buôn bán các thứ.- Nếu Tỳ kheo ni mà mua rẻ bán đắt mọi thứ thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 12, giới kiếm bát quá phận.- Nếu Tỳ kheo ni dùng cái bát chưa đủ 5 chỗ hàn bịt, bát ấy cũng chưa rỉ nước, vậy mà thay vào đó đi tìm bát mới cho đẹp, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Tỳ kheo ni ấy nên đem cái bát mới ấy đến giữa ni chúng mà xả bỏ. Ni chúng tuần tự đem đổi từ thượng tọa đến hạ tọa, lấy cái bát của hạ tọa đưa cho Tỳ kheo ni ấy, và nói rằng hiền muội (37) dùng cái bát này cho đến bể. Đó là đúng trường hợp.
Thứ 13, giới kiếm chỉ dệt y.- Nếu Tỳ kheo ni tự xin chỉ sợi, bảo thợ dệt không phải thân quyến của mình dệt y giúp, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 14, giới bảo thợ dệt thêm.- Nếu Tỳ kheo ni có cư sĩ hay vợ cư sĩ bảo thợ dệt dệt y cho Tỳ kheo ni ấy. Tỳ kheo ni ấy trước không có nhận lời xin tùy ý, lại đi đến chỗ thợ dệt, bảo rằng y này là dệt cho tôi, vậy anh dệt giúp cho thật đẹp, dệt cho rộng và bền, tốn thêm nhiều ít gì tôi cũng trả cho anh. Tỳ kheo ni ấy trả thêm tiền dầu chỉ đáng giá một bữa ăn mà được y, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 15, giới đoạt lấy y lại.- Nếu Tỳ kheo ni trước cho y Tỳ kheo ni khác, sau vì tức giận nên tự đoạt lại, hay bảo người đoạt, và rằng hãy trả y lại cho tôi, tôi không cho đại tỷ nữa. Tỳ kheo ni này trả y, mà Tỳ kheo ni ấy lấy y, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 16, giới cất thuốc quá hạn.- Nếu Tỳ kheo ni có bịnh, cất thuốc như sữa tô, dầu, sữa tô tươi, mật ong, đường phèn, được dùng cách đêm cho đến 7 ngày. Nếu quá 7 ngày mà còn dùng thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 17, giới cất y cúng gấp.- Nếu Tỳ kheo ni còn 10 ngày nữa thì hết kiết hạ 3 tháng (38) , chư Tỳ kheo ni được phép nhận y cúng vội vàng. Tỳ kheo ni ấy biết là y cúng vội vàng thì nên nhận, nhận rồi được cất giữ trong thì hạn của y ấy (39) . Nếu cất giữ quá thì hạn ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 18, giới xoay vật chư tăng.- Nếu Tỳ kheo ni biết đó là vật người ta muốn hiến cúng cho chư tăng, mà mình tìm cách xoay lại hiến cúng cho mình, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 19, giới đòi vầy đòi khác.- Nếu Tỳ kheo ni muốn đòi hỏi cái này lại đòi hỏi cái khác, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 20, giới tiền đường làm y.- Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để làm pháp đường, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề (40) .
Thứ 21, giới tiền ăn làm y.- Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để ăn, mình kiếm cũng là kiếm cho chư tăng ăn, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 22, giới tiền phòng làm y.- Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để làm phòng, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 23, giới tiền nhà làm y.- Nếu Tỳ kheo ni biết đàn việt hiến cho chư tăng là để làm nhà, mình kiếm cũng là kiếm để làm nhà cho chư tăng, vậy mà mình đổi ra làm những việc khác, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 24, giới cất trường bát tốt.- Nếu Tỳ kheo ni cất giữ trường bát (41) mà không tịnh thí, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 25, giới cất nhiều đồ tốt.- Nếu Tỳ kheo ni cất nhiều đồ màu tốt, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 26, giới không cho bịnh y.- Nếu Tỳ kheo ni hứa cho bịnh y (42) cho Tỳ kheo ni khác, nhưng rồi không cho, thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 27, giới y thời phi thời.- Nếu Tỳ kheo ni đem phi thời y làm thời y (43) , thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 28, giới giận lấy y lại.- Nếu Tỳ kheo ni đã đổi y cho Tỳ kheo ni khác rồi, sau đó tức giận nên tự đoạt lại hay bảo người đoạt lại, rằng hiền muội hãy trả y lại cho tôi, tôi không cho hiền muội nữa; y của tôi hiền muội trả cho tôi, y của hiền muội tôi trả cho hiền muội. Đoạt lại như vậy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 29, giới áo dày quá giá.- Nếu Tỳ kheo ni xin áo dày thì chỉ được ngang với giá tiền 4 tấm vải mịn (44) ; quá giá ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề.
Thứ 30, giới áo mỏng quá hạn.- Nếu Tỳ kheo ni muốn xin áo mỏng (45) thì cao lắm cũng chỉ đến giá tiền 2 tấm rưỡi vải mịn; quá giá ấy thì phạm ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 30 giới ni-tát-kỳ ba-dật-đề. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 30 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 30 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.5 Một Trăm Bảy Mươi Tám Giới Đọa
Bạch chư đại tỷ, 178 giới ba-dật-đề – Pacittiya (46) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Thứ 1, giới cố ý nói dối.- Nếu Tỳ kheo ni cố ý nói dối, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 2, giới chưởi mắng thành phần (47) .- Nếu Tỳ kheo ni chưởi mắng, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 3, giới nói để ly gián.- Nếu Tỳ kheo ni nói ly gián thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 4, giới ngủ cùng một nhà.- Nếu Tỳ kheo ni cùng người nam ngủ một nhà thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 5, giới ngủ quá thì hạn.- Nếu Tỳ kheo ni cùng ngủ một nhà với người nữ chưa thọ đại giới mà quá 3 đêm, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 6, giới đọc tụng ồn náo.- Nếu Tỳ kheo ni cùng với người chưa thọ đại giới đọc tụng kinh pháp một cách ồn náo, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 7, giới nói tội lỗi nặng.- Nếu Tỳ kheo ni biết người có tội lỗi nặng mà đem nói với người chưa thọ đại giới, thì, trừ tăng kiết-ma sai bảo, phạm ba-dật-đề.
Thứ 8, giới nói thật đắc đạo.- Nếu Tỳ kheo ni nói với người chưa thọ đại giới, rằng tôi được cái pháp hơn người, rằng tôi thấy như vậy, tôi biết như vậy; nói thật như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 9, giới một mình thuyết pháp.- Nếu Tỳ kheo ni thuyết pháp cho người nam mà quá năm sáu lời (48) , thì, trừ sự có mặt của nữ nhân trí thức, phạm ba-dật-đề.
Thứ 10, giới đào cuốc đất đai.- Nếu Tỳ kheo ni tự tay đào đất hay bảo người đào đất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 11, giới chặt phá cây sống.- Nếu Tỳ kheo ni chặt phá cây cối, có nghĩa phá hủy chỗ ở của quỉ thần và sinh vật (49) , thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 12, giới nói làm bực mình.- Nếu Tỳ kheo ni bày đặt nói quanh để làm người khác bực mình, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 13, giới ghét mắng tri sự.- Nếu Tỳ kheo ni ghét mắng chức sự của chư tăng thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 14, giới trải đồ đất trống.- Nếu Tỳ kheo ni đem đồ của chư tăng như giường giây (50) , giường cây, đồ nằm và nệm ngồi, tự sắp ra trên mặt đất trống, hay bảo người sắp ra, dùng rồi bỏ đó mà đi, không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 15, giới trải đồ chỗ che.- Nếu Tỳ kheo ni sắp đồ nằm của chư tăng ra trong tăng phòng, tự mình sắp ra hay bảo người sắp ra, hoặc ngồi hoặc nằm, rồi bỏ đó mà đi, không tự xếp cất, cũng không bảo ai xếp cất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 16, giới cưỡng chiếm chỗ nằm.- Nếu Tỳ kheo ni biết chỗ của Tỳ kheo ni ở trước, mình đến sau mà cưỡng chiếm ở giữa, trải đồ nằm ra ngủ nghỉ, với ý nghĩ rằng nếu Tỳ kheo ni ở trước hiềm chật quá thì sẽ tự tránh mình mà đi. Ấy là muốn làm như thế chứ không có lý do gì khác. Phi uy nghi như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 17, giới lôi ra khỏi phòng.- Nếu Tỳ kheo ni tức giận, không ưa Tỳ kheo ni khác, nên trong phòng của chư tăng mà tự mình lôi ra hay bảo người lôi ra, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 18, giới ngồi giường sút chân.- Nếu Tỳ kheo ni ở trên gác, mà ngồi hay nằm trên giường giây hay giường cây sút chân, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 19, giới dùng nước có trùng.- Nếu Tỳ kheo ni biết nước có trùng mà tự đem dội trên đất trên cỏ, hay bảo người dội, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 20, giới lợp nhà quá mức.- Nếu Tỳ kheo ni làm phòng hay nhà lớn, có cửa cánh, cửa sổ, và những đồ trang trí khác, thì chỉ bảo lợp tranh chừng hai hay ba lớp. Lợp quá thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 21, giới ăn quá một bữa.- Nếu Tỳ kheo ni có thí chủ chỉ cúng một bữa ăn, Tỳ kheo ni ấy không bịnh thì nên ăn một bữa thôi. Nếu ăn quá đi thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 22, giới ăn riêng tăng chúng.- Nếu Tỳ kheo ni ăn riêng tăng chúng thì, trừ các trường hợp khác, phạm ba-dật-đề. Các trường hợp khác là khi bịnh, khi may y gấp, khi có người dâng y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập hợp, khi sa môn của ngoại đạo mời ăn, đó gọi là các trường hợp khác.
Thứ 23, giới nhận quá giới hạn.- Nếu Tỳ kheo ni đến nhà cư sĩ tha thiết thỉnh Tỳ kheo ni để cúng bánh, miến và cơm, Tỳ kheo ni ấy nếu cần thì nhận vài ba bát, đem về trong chùa nên chia cho các Tỳ kheo ni khác cùng ăn. Nếu Tỳ kheo ni ấy không bịnh mà nhận quá vài ba bát, đem về trong chùa cũng không chia cho các Tỳ kheo ni khác cùng ăn, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 24, giới ăn lúc phi thời.- Nếu Tỳ kheo ni ăn lúc không phải giờ ăn (51) , ăn như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 25, giới ăn đồ cách đêm.- Nếu Tỳ kheo ni đồ ăn để cách đêm mà ăn thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 26, giới ăn đồ không nhận.- Nếu Tỳ kheo ni đối với thức ăn hay thuốc mình không nhận lời mời mà đã bỏ vào miệng (52) thì, trừ nước và tăm, phạm ba-dật-đề.
Thứ 27, giới đi mà không nói.- Nếu Tỳ kheo ni trước đã nhận lời mời về bữa ăn trước hay bữa ăn sau (53) , rồi đi đến nhà khác mà không dặn lại cho các Tỳ kheo ni, thì, trừ trường hợp khác, phạm ba-dật-đề. Trường hợp khác là bịnh, may y, cho y, đó gọi là trường hợp khác.
Thứ 28, giới nhà ăn ngồi dai.- Nếu Tỳ kheo ni tại nhà ăn có vật báu (54) mà mình miễn cưỡng ngồi dai, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 29, giới nhà ăn ngồi khuất.- Nếu Tỳ kheo ni tại nhà ăn có vật báu mà mình ngồi chỗ khuất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 30, giới ngồi với người nam.- Nếu Tỳ kheo ni một mình cùng với người nam ngồi chung một chỗ ở đất trống, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 31, giới đuổi người đi đi.- Nếu Tỳ kheo ni nói với Tỳ kheo ni khác như vầy, đại tỷ, đi với tôi đến xóm làng, sẽ có thức ăn cho đại tỷ. Nhưng đến rồi, Tỳ kheo ni ấy đã không khuyên cúng thức ăn cho Tỳ kheo ni khác này, mà lại bảo đại tỷ đi đi, tôi cùng đại tỷ ngồi hay nói với nhau một chỗ thì tôi không ưa, tôi ngồi một mình nói một mình thì thích hơn. Chỉ vì lý do như vậy, chứ không có lý do gì khác hơn mà tìm cách xua đuổi người khác đi đi, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 32, giới nhận thuốc quá hạn.- Nếu Tỳ kheo ni được xin cho thuốc 4 tháng, Tỳ kheo ni ấy không bịnh cũng nên nhận. Nhưng nếu nhận quá thì hạn ấy, thì, trừ người ta xin cho luôn, xin cho thêm, xin chia mà cho, xin cho suốt đời, phạm ba-dật-đề.
Thứ 33, giới đi coi quân trận.- Nếu Tỳ kheo ni đi coi quân trận thì, trừ trường hợp có lý do, phạm ba-dật-đề.
Thứ 34, giới trong quân quá hạn.- Nếu Tỳ kheo ni có lý do thì được phép đến trong quân đội tá túc 2 đêm 3 đêm, quá thì hạn ấy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 35, giới coi quân diễn tập.- Nếu Tỳ kheo ni được phép tá túc trong quân đội vài ba đêm mà hoặc coi quân đội dàn trận, hoặc coi lực lượng tượng binh kỳ binh diễn tập, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 36, giới uống các thứ rượu.- Nếu Tỳ kheo ni uống các thứ rượu thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 37, giới đùa giỡn dưới nước.- Nếu Tỳ kheo ni đùa giỡn dưới nước thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 38, giới thọc léc người khác.- Nếu Tỳ kheo ni lấy ngón tay ngón chân thọc léc Tỳ kheo ni khác thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 39, giới không nhận khuyên can.- Nếu Tỳ kheo ni không chấp nhận mọi sự khuyên can thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 40, giới dọa cho người sợ.- Nếu Tỳ kheo ni dọa cho Tỳ kheo ni khác sợ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 41, giới tắm dưới nửa tháng.- Nếu Tỳ kheo ni thì nửa tháng tắm rửa. Tỳ kheo ni không bịnh thì nên nhận như vậy. Nếu nhiều hơn thì, trừ trường hợp khác, phạm ba-dật-đề. Trường hợp khác là khi nóng, khi bịnh, khi làm việc, khi bị gió lớn, khi bị mưa, khi đến từ đường xa, đó gọi là những trường hợp khác.
Thứ 42, giới đốt lửa đất trống.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, mà chỉ vì sưởi ấm nên tự đốt lửa giữa đất trống hay bảo người đốt, thì, trừ trường hợp có lý do, phạm ba-dật-đề.
Thứ 43, giới cất giấu vật dụng.- Nếu Tỳ kheo ni cất giấu vật dụng của Tỳ kheo ni khác như y, bát, đồ ngồi, ống kim, mình tự cất giấu hay bảo người cất giấu, ít nhất chỉ để giỡn chơi thôi, cũng phạm ba-dật-đề.
Thứ 44, giới cho rồi lấy lại.- Nếu Tỳ kheo ni đã đem y cho Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thức xoa ma na, Sa-di, Sa-di ni rồi, sau đó không nói với người chủ của y được cho, mà lấy lại dùng, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 45, giới dùng y mới nguyên.- Nếu Tỳ kheo ni được có y mới nguyên, thì nên dùng 3 màu nhuộm cho hỏng nguyên màu đi, đó là màu xanh, màu đen, màu nấu vỏ cây mộc lan. Nếu Tỳ kheo ni ấy không lấy màu xanh, màu đen, màu nấu vỏ cây mộc lan, 3 màu nhuộm cho hỏng nguyên màu đi, mà dùng y mới nguyên, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 46, giới cố hại súc sinh.- Nếu Tỳ kheo ni cố hại tính mạng súc sinh, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 47, giới uống nước có trùng.- Nếu Tỳ kheo ni biết nước có trùng mà vẫn uống vẫn dùng, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 48, giới quấy rối người khác.- Nếu Tỳ kheo ni cố ý làm bực mình Tỳ kheo ni khác, thì dầu làm cho chốc lát không vui thôi cũng phạm ba-dật-đề.
Thứ 49, giới che giấu tội người.- Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo ni khác phạm tội nặng mà che giấu thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 50, giới khơi sự tranh cãi (55) .- Nếu Tỳ kheo ni biết sự tranh cãi đã sám hối đúng phép rồi, mà sau đó mình còn khơi dậy trở lại, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 51, giới hẹn đi với giặc.- Nếu Tỳ kheo ni biết là giặc mà hẹn cùng đi một đường, thì dẫu đi chỉ bằng đến một thôn cũng phạm ba-dật-đề.
Thứ 52, giới chống can nói càn.- Nếu Tỳ kheo ni nói như vầy: theo tôi biết giáo pháp Phật nói thì hành dâm không phải là sự chướng đạo. Tỳ kheo ni khác can Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng nói như vậy, đừng phỉ báng đức Thế tôn. Phỉ báng đức Thế tôn thì không tốt. Đức Thế tôn không nói như vậy. Đức Thế tôn đã dùng nhiều cách nói rằng dâm dục là chướng đạo, phạm vào dâm dục là chướng đạo. Tỳ kheo ni khác can gián Tỳ kheo ni ấy mà Tỳ kheo ni ấy kiên trì không bỏ, thì Tỳ kheo ni khác phải can gián đến lần thứ 3 để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, không bỏ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 53, giới theo người có lỗi.- Nếu Tỳ kheo ni biết Tỳ kheo ni nói “theo tôi biết giáo pháp Phật nói thì hành dâm không phải là sự chướng đạo” đang bị cử tội mà chưa được tác pháp giải tội, sự thấy biết sai lầm đến như vậy cũng không chịu từ bỏ; biết như vậy mà vẫn chứa chấp, vẫn cùng kiết-ma, vẫn cùng ngủ nghỉ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 54, giới dung kẻ bị đuổi.- Nếu Tỳ kheo ni biết Sa-di ni nói như vầy: tôi nghe Phật nói hành dâm không phải là sự chướng đạo. Các vị Tỳ kheo ni can gián Sa-di ni ấy, bằng cách nói rằng cô đừng nói như vậy, đừng phỉ báng đức Thế tôn, phỉ báng đức Thế tôn thì không tốt; đức Thế tôn không dạy như cô nói. Này, Sa-di ni, đức Thế tôn đã dùng nhiều cách nói dâm dục là chướng đạo, phạm vào dâm dục là chướng đạo. Các vị Tỳ kheo ni can gián như vậy mà Sa-di ni ấy kiên trì không bỏ, thì các vị Tỳ kheo ni nên can gián đến lần thứ 3 để Sa-di ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Nếu can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt. Nếu không bỏ thì các vị Tỳ kheo ni nên bảo Sa-di ni ấy, rằng từ nay sắp đi cô không phải là đệ tử của Phật, không còn được theo các vị Tỳ kheo ni, các Sa-di ni khác được ngủ một phòng với Tỳ kheo ni 2 đêm thì cô không còn được sự ấy nữa: cô hãy đi ra đi, hãy đi mất đi, không nên ở đây nữa. Nếu Tỳ kheo ni biết Sa-di ni ấy bị chư tăng đuổi như vậy mà chứa chấp, cho ở chung ngủ chung, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 55, giới chống cự khuyên học.- Nếu Tỳ kheo ni khi được các Tỳ kheo ni đúng phép can gián, mà nói như vầy: tôi nay không học giới này, tôi sẽ gạn hỏi vị trì luật nào có trí tuệ, thì phạm ba-dật-đề. Nếu muốn học thật thì lại cần phải gạn hỏi.
Thứ 56, giới phỉ báng giới pháp.- Nếu Tỳ kheo ni khi nghe thuyết giới mà nói như vầy: đại tỷ cần gì phải nói những giới điều vụn vặt như vậy. Nói những giới điều như vậy chỉ làm người bực mình, xấu hổ, thắc mắc. Vì khinh chê giới pháp nên phạm ba-dật-đề.
Thứ 57, giới sợ nên nói trước.- Nếu Tỳ kheo ni khi nghe thuyết giới mà nói như vầy: nay tôi mới biết giới điều này mỗi nửa tháng tụng một lần, rút ra từ trong Giới kinh. Nhưng các Tỳ kheo ni khác biết Tỳ kheo ni ấy đã 2 lần 3 lần ngồi nơi chỗ thuyết giới, huống chi đã nhiều lần. Tỳ kheo ni ấy nói không hiểu biết, vậy nếu phạm tội thì phải đúng pháp mà trị tội đã phạm, lại trị thêm tội không hiểu biết; hãy bảo rằng, đại tỷ không được lợi ích, chỉ được bất thiện, ấy là khi nghe thuyết giới mà đại tỷ không dụng tâm ghi nhớ, không nghe với một lòng và hai tai. Ấy vậy, không hiểu biết giới điều thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 58, giới kiết-ma rồi hối.- Nếu Tỳ kheo ni chung cùng kiết-ma rồi, sau đó nói rằng các Tỳ kheo ni theo bạn thân nên lấy vật của chư tăng mà cho họ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 59, giới không nói dữ dục.- Nếu Tỳ kheo ni, chư tăng xử việc chưa xong, mình không nói dữ dục mà đứng dậy đi ra, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 60, giới dữ dục rồi hối.- Nếu Tỳ kheo ni dữ dục rồi sau đó trách móc, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 61, giới lén nghe tranh cãi.- Nếu Tỳ kheo ni, các Tỳ kheo ni tranh cãi với nhau, mình lén nghe rồi đem lời ấy nói với người khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 62, giới đánh Tỳ kheo ni.- Nếu Tỳ kheo ni vì tức giận không vui mà đánh Tỳ kheo ni khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 63, giới tát Tỳ kheo ni.- Nếu Tỳ kheo ni vì tức giận không vui mà lấy tay tát Tỳ kheo ni khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 64, giới vu khống phạm tội.- Nếu Tỳ kheo ni vì tức giận nên đem sự vô căn cứ mà phỉ báng Tỳ kheo ni khác phạm tăng-già bà-thi-sa, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 65, giới vào cửa cung vua.- Nếu Tỳ kheo ni, có vua thuộc dòng Sát lợi, rưới nước đỉnh đầu lúc đăng quang, vua này chưa ra khách, chưa cất bảo vật, mà mình đi vào, nếu bước qua ngưỡng cửa cung vua, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 66, giới cầm giữ vàng ngọc.- Nếu Tỳ kheo ni đối với vàng ngọc hay đồ trang sức bằng vàng ngọc, mà mình tự cầm giữ hay bảo người cầm giữ, thì, trừ trong chùa và chỗ ngủ nhờ, phạm ba-dật-đề. Trong chùa và chỗ ngủ nhờ mà cầm giữ vàng ngọc hay đồ trang sức bằng vàng ngọc, tự mình cầm giữ hay bảo người cầm giữ, thì nên nghĩ rằng để người chủ nhớ mà đến lấy: vì ý nghĩ ấy chứ không vì gì khác.
Thứ 67, giới đi không phải lúc.- Nếu Tỳ kheo ni đi vào xóm làng không phải lúc, mà không dặn lại Tỳ kheo ni khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 68, giới làm giường quá cỡ.- Nếu Tỳ kheo ni làm giường giây giường cây, thì chân chỉ cao bằng 8 ngón tay của Phật, trừ chỗ vô mộng hớt rồi. Nếu quá cỡ ấy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 69, giới dồn bông độn nệm.- Nếu Tỳ kheo ni dồn đâu la (56) độn nệm lót giường giây giường cây, hay độn ngọa cụ tọa cụ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 70, giới ăn các thứ tỏi (57) .- Nếu Tỳ kheo ni ăn các thứ tỏi thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 71, giới cạo lông 3 chỗ.- Nếu Tỳ kheo ni cạo lông 3 chỗ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 72, giới dùng quá giới hạn.- Nếu Tỳ kheo ni dùng nước tác tịnh thì nên giới hạn 2 ngón tay, mỗi ngón 1 đốt (58) , nếu quá giới hạn ấy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 73, giới chế ra nam căn.- Nếu Tỳ kheo ni dùng hồ giao làm nam căn thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 74, giới cùng vỗ với nhau.- Nếu Tỳ kheo ni vỗ nhau thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 75, giới bưng nước và quạt.- Nếu Tỳ kheo ni đối với Tỳ kheo không bịnh mà khi vị ấy ăn, mình bưng nước, đứng trước mặt lấy quạt mà quạt, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 76, giới xin cho lúa sống.- Nếu Tỳ kheo ni xin lúa sống (59) thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 77, giới tiện lợi trên cỏ.- Nếu Tỳ kheo ni trên cỏ tươi mà đại tiện tiểu tiện thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 78, giới đổ bậy đồ dơ.- Nếu Tỳ kheo ni ban đêm đại tiện tiểu tiện trong đồ chứa, sáng sớm không nhìn ngoài tường mà đổ xuống, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 79, giới xem nghe kỷ nhạc.- Nếu Tỳ kheo ni đi xem nghe kỷ nhạc (60) thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 80, giới đứng khuất trong xóm.- Nếu Tỳ kheo ni vào trong làng xóm, cùng với người nam đứng và nói chuyện ở chỗ khuất, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 81, giới đi vào chỗ khuất.- Nếu Tỳ kheo ni cùng với người nam đi vào chỗ khuất và có vật ngăn che, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 82, giới đứng chung nói thầm.- Nếu Tỳ kheo ni vào trong làng trong hẻm, bảo bạn đi xa đi, rồi cùng người nam ở chỗ khuất, đứng chung và kề tai mà nói, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 83, giới không nói mà đi.- Nếu Tỳ kheo ni vào ngồi nhà cư sĩ, rồi bỏ đi mà không nói với chủ nhân, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 84, giới không nói mà ngồi.- Nếu Tỳ kheo ni vào trong nhà cư sĩ, không nói với chủ nhân mà ngồi liền xuống giường ghế, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 85, giới không nói mà ngủ.- Nếu Tỳ kheo ni vào trong nhà cư sĩ, không nói với chủ nhân, liền tự sắp chỗ mà ngồi, ngủ, nghỉ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 86, giới cùng vào nhà tối.- Nếu Tỳ kheo ni cùng người nam vào trong nhà tối, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 87, giới không rõ lời nghe.- Nếu Tỳ kheo ni không thẩm định lời nói mình tiếp nhận mà đã nói ngay với người khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 88, giới việc nhỏ mà thề.- Nếu Tỳ kheo ni có lý do hay sự việc nhỏ nhặt mà liền thề đọa ác đạo, không sinh trong Phật pháp (60b) , rằng nếu tôi có việc như vậy thì đọa ác đạo, không sinh trong Phật pháp, nếu cô có việc như vậy thì cũng đọa ác đạo, không sinh trong Phật pháp. Thề như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 89, giới đấm ngực khóc la.- Nếu Tỳ kheo ni tranh cãi với người khác vì không khéo nhớ sự việc tranh cãi, rồi đấm ngực khóc la, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 90, giới không bịnh nằm chung.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh mà 2 người nằm chung 1 giường thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 91, giới nằm chung chăn nệm.- Nếu Tỳ kheo ni nằm chung một nệm, cùng một chăn, thì, trừ trường hợp khác (61) , phạm ba-dật-đề.
Thứ 92, giới hỏi để quấy rối.- Nếu Tỳ kheo ni biết người ở trước mình đến sau, biết người đến sau mình ở trước, vì quấy rầy người ấy nên ở trước mặt họ mà tụng kinh, hỏi nghĩa, chỉ dạy, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 93, giới không trông nom bịnh.- Nếu Tỳ kheo ni có Tỳ kheo ni sống chung bị bịnh mà không trông nom, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 94, giới an cư mà đuổi.- Nếu Tỳ kheo ni đầu an cư thì cho các Tỳ kheo ni khác đặt giường trong phòng mình, sau đó tức giận đuổi ra, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 95, giới ba mùa du hành.- Nếu Tỳ kheo ni mùa xuân mùa hạ mùa đông, tất cả các mùa đều du hành dân gian, thì, trừ lý do trường hợp khác (62) , phạm ba-dật-đề.
Thứ 96, giới an cư rồi ở.- Nếu Tỳ kheo ni kiết hạ an cư rồi mà không ra đi (63) , thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 97, giới đi ngoài khu vức.- Nếu Tỳ kheo ni ngoài khu vức có chỗ nghi là đáng sợ, vậy mà vẫn đi vào dân gian, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 98, giới đi trong khu vức.- Nếu Tỳ kheo ni trong khu vức có chỗ nghi là đáng sợ, vậy mà vẫn đi vào dân gian, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 99, giới thân cận cư sĩ.- Nếu Tỳ kheo ni thân thiết với cư sĩ và con cư sĩ, sống chung, rồi làm hạnh bất tùy thuận. Các Tỳ kheo ni khác can gián Tỳ kheo ni ấy, rằng đại tỷ, đừng có thân thiết với cư sĩ và con cư sĩ, sống chung, rồi làm hạnh bất tùy thuận. Đại tỷ hãy sống riêng. Sống riêng thì trong Phật pháp sẽ có đời sống tăng ích và yên vui. Tỳ kheo ni ấy khi được các Tỳ kheo ni khác can gián như vậy mà vẫn kiên trì không bỏ, thì các Tỳ kheo ni khác nên can gián đến lần thứ 3, vì để Tỳ kheo ni ấy bỏ sự kiên trì ấy đi. Can gián đến lần thứ 3 mà bỏ thì tốt, nếu không bỏ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 100, giới đi xem hoàng cung.- Nếu Tỳ kheo ni đến xem hoàng cung với điện đường sơn vẽ, vườn rừng hồ tắm, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 101, giới khỏa thân tắm sông.- Nếu Tỳ kheo ni khỏa thân tắm trong nước sông, nước suối, nước kênh, nước hồ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 102, giới khăn tắm quá cỡ.- Nếu Tỳ kheo ni làm khăn tắm thì phải làm đúng cỡ. Làm đúng cỡ là dài bằng 6 gang tay của Phật, rộng bằng 2 gang rưỡi. Nếu quá cỡ ấy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 103, giới may y quá ngày.- Nếu Tỳ kheo ni may y tăng già lê quá 5 ngày thì, trừ xin y tăng già lê, xả y công đức, hay 6 nạn xảy ra (64) , phạm ba-dật-đề.
Thứ 104, giới không coi sóc y.- Nếu Tỳ kheo ni quá 5 ngày (65) không coi sóc y tăng già lê, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 105, giới cản ngăn cúng y.- Nếu Tỳ kheo ni ngăn cản cúng y cho chư tăng thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 106, giới mang y không hỏi.- Nếu Tỳ kheo ni không hỏi người có y mà tự tiện mang y của họ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 107, giới cho ngoại đạo y.- Nếu Tỳ kheo ni cầm y sa môn mà cho ngoại đạo hay cư sĩ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 108, giới cản tăng chia y.- Nếu Tỳ kheo ni vì sợ đệ tử không được phần nên có ý thức ngăn cản chư tăng chia y đúng phép, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 109, giới khiến tăng không xả.- Nếu Tỳ kheo ni vì muốn hưởng lâu 5 sự, nên có ý thức làm cho chư tăng hiện không xả y công đức, để sau sẽ xả, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 110, giới ngăn cản ni tăng.- Nếu Tỳ kheo ni vì muốn hưởng lâu 5 sự, nên có ý thức ngăn cản Tỳ kheo ni tăng xả công đức y, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 111, giới không diệt tranh cãi.- Nếu Tỳ kheo ni có Tỳ kheo ni khác nói với, rằng xin diệt trừ sự tranh cãi ấy cho tôi, vậy mà Tỳ kheo ni ấy không thực thi phương tiện gì để diệt trừ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 112, giới cho ngoại đạo ăn.- Nếu Tỳ kheo ni tự tay đưa thức ăn cho cư sĩ và ngoại đạo ăn thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 113, giới làm người sai phái.- Nếu Tỳ kheo ni làm người sai sử cho cư sĩ thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 114, giới xe chỉ đánh sợi.- Nếu Tỳ kheo ni tự tay xe chỉ đánh sợi thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 115, giới nằm ngồi giường người.- Nếu Tỳ kheo ni vào trong nhà cư sĩ mà ngồi hay nằm trên giường nhỏ giường lớn của họ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 116, giới ngủ rồi không từ.- Nếu Tỳ kheo ni đến nhà cư sĩ bảo chủ nhân sắp chỗ để ngủ lại, sáng ngày đi mà không cáo từ chủ nhân, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 117, giới tụng tập chú thuật.- Nếu Tỳ kheo ni tụng tập chú thuật của thế tục, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 118, giới dạy tập chú thuật.- Nếu Tỳ kheo ni chỉ dạy cho người tụng tập chú thuật của thế tục, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 119, giới độ người có thai.- Nếu Tỳ kheo ni biết phụ nữ mang thai mà vẫn độ cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 120, giới độ người con bú.- Nếu Tỳ kheo ni biết phụ nữ có con còn bú mà vẫn cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 121, giới độ người thiếu tuổi.- Nếu Tỳ kheo ni biết thiếu nữ tuổi chưa đầy 20 mà vẫn cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 122, giới không cho học giới.- Nếu Tỳ kheo ni đối với thiếu nữ tuổi đã 18, không cho họ 2 năm học giới, cứ tuổi đủ 20 là cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 123, giới không cho 6 pháp.- Nếu Tỳ kheo ni đối với thiếu nữ tuổi đã 18, cho 2 năm học giới mà không cho 6 pháp, cứ tuổi đủ 20 là cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 124, giới không cho cứ thọ.- Nếu Tỳ kheo ni đối với thiếu nữ tuổi đã 18, cho 2 năm học giới, cho 6 pháp, tuổi đủ 20, nhưng chư tăng không cho (66) mà mình vẫn cho liền lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 125, giới thiếu năm cho thọ.- Nếu Tỳ kheo ni độ cho người nữ đã kết hôn, thì 10 năm mới cho 2 năm học giới; đủ 12 năm (67) như vậy mới cho lãnh thọ cụ túc giới. Nếu dưới 12 năm mà cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 126, giới không thưa mà cho.- Nếu Tỳ kheo ni độ cho người nữ đã kết hôn, cho 2 năm học giới, nghĩa là đủ 12 năm rồi, nhưng không tác bạch chư tăng mà vẫn cho liền lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 127, giới độ cho người xấu.- Nếu Tỳ kheo ni biết nữ nhân là người như vậy như vậy (68) mà vẫn cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 128, giới độ người trái phép.- Nếu Tỳ kheo ni độ nhiều đệ tử, không dạy 2 năm học giới, không đem 2 pháp (69) nhiếp hóa, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 129, giới không nương tựa thầy.- Nếu Tỳ kheo ni không có 2 năm theo hòa thượng ni, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 130, giới không cho mà thọ.- Nếu Tỳ kheo ni chư tăng không cho mà vẫn truyền thọ cụ túc giới cho người, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 131, giới chưa đủ truyền giới.- Nếu Tỳ kheo ni tuổi hạ chưa đủ 12 năm mà truyền thọ cụ túc giới cho người, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 132, giới không cho mà truyền.- Nếu Tỳ kheo ni tuổi hạ đã đủ 12 năm, nhưng chư tăng không cho mà vẫn tự tiện truyền thọ cụ túc giới cho người, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 133, giới phỉ báng không cho.- Nếu Tỳ kheo ni chư tăng không cho truyền thọ cụ túc giới cho người, liền nói chư tăng có tham có sân có si có sợ, muốn cho thì cho, muốn không thì không, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 134, giới không được đồng ý.- Nếu Tỳ kheo ni, cha mẹ hay chồng của nữ nhân không đồng ý, mà mình vẫn cho nữ nhân ấy lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 135, giới độ cho đang yêu.- Nếu Tỳ kheo ni biết thiếu nữ đang yêu mến thiếu niên thanh niên nào đó, rồi biến thành thiếu nữ sầu muộn cáu kỉnh, mà vẫn độ cho xuất gia, lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 136, giới không cho thọ giới.- Nếu Tỳ kheo ni nói với thức xoa ma na, rằng cô em, hãy bỏ cái này, hãy học cái kia, tôi sẽ cho cô em lãnh thọ cụ túc giới. Nói như vậy mà nếu sau đó không tìm cách cho thức xoa ma na kia lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 137, giới nhận mà không cho.- Nếu Tỳ kheo ni nói với thức xoa ma na, rằng đem y đến cúng cho tôi, tôi sẽ cho cô em lãnh thọ cụ túc giới. Nói như vậy mà rồi không tìm cách cho thức xoa ma na kia lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 138, giới truyền giới mau quá.- Nếu Tỳ kheo ni chưa đủ 12 tháng nữa mà đã truyền thọ cụ túc giới cho người khác nữa, thì phạm ba-dật-đề (70) .
Thứ 139, giới để cách 1 đêm.- Nếu Tỳ kheo ni cho người lãnh thọ cụ túc giới rồi, để qua 1 đêm mới đến giữa Tỳ kheo tăng cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 140, giới không thọ giáo thọ.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh mà không đến lãnh thọ sự giáo thọ của Tỳ kheo, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 141, giới không cầu giáo thọ.- Nếu Tỳ kheo ni thì nửa tháng phải đến Tỳ kheo tăng mà cầu giáo thọ. Nếu không cầu thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 142, giới không cầu tự tứ.- Nếu Tỳ kheo ni tăng thì kiết hạ an cư rồi, phải đến giữa Tỳ kheo tăng cầu 3 sự tự tứ, đó là thấy, nghe, nghi. Nếu không thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 143, giới an cư không tăng.- Nếu Tỳ kheo ni ở chỗ không có Tỳ kheo mà kiết hạ an cư, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 144, giới không thưa vào chùa.- Nếu Tỳ kheo ni biết tăng già lam có Tỳ kheo, không thưa mà vào, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 145, giới mạ lị Tỳ kheo.- Nếu Tỳ kheo ni mắng Tỳ kheo thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 146, giới tranh cãi không nhớ.- Nếu Tỳ kheo ni ưa tranh cãi vì không khéo nhớ sự việc tranh cãi, sau đó giận dữ không vui, mắng Tỳ kheo ni chúng, thì phạm ba-dật-đề
Thứ 147, giới mổ nhọt không thưa.- Nếu Tỳ kheo ni thân thể sinh ung nhọt và các thứ ghẻ chốc, không bạch trong chúng, không nói với ai, mà nhờ liền người nam mổ hay băng, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 148, giới ăn rồi ăn nữa.- Nếu Tỳ kheo ni trước nhận lời thỉnh mời, ăn đủ rồi, sau đó lại ăn cơm, miến, cơm chiên (71) , thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 149, giới ganh ghét với thầy.- Nếu Tỳ kheo ni đối với thầy (72) mình mà sinh tâm ganh ghét, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 150, giới hương liệu xoa mình.- Nếu Tỳ kheo ni dùng hương liệu mà xoa xát thân thể, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 151, giới dầu mè xoa mình.- Nếu Tỳ kheo ni lấy cặn dầu mè (73) mà xoa xát thân thể, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 152, giới bảo đồng giới xoa.- Nếu Tỳ kheo ni bảo Tỳ kheo ni xoa xát thân thể thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 153, giới bảo thức xoa xoa.- Nếu Tỳ kheo ni bảo thức xoa ma na xoa xát thân thể, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 154, giới Sa-di ni xoa.- Nếu Tỳ kheo ni bảo Sa-di ni xoa xát thân thể thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 155, giới bảo phụ nữ xoa.- Nếu Tỳ kheo ni bảo vợ hay con gái của cư sĩ xoa xát thân thể, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 156, giới dùng quần lót dày (74) .- Nếu Tỳ kheo ni mặc quần lót độn dày thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 157, giới sắm đồ trang điểm.- Nếu Tỳ kheo ni cất chứa đồ trang điểm thân thể của phụ nữ, thì, trừ lý do trường hợp khác, phạm ba-dật-đề.
Thứ 158, giới mang dép cầm dù.- Nếu Tỳ kheo ni đi mà mang dày da và cầm dù, thì, trừ lý do trường hợp khác, phạm ba-dật-đề.
Thứ 159, giới không bịnh đi xe.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh mà đi xe, thì, trừ lý do trường hợp khác, phạm ba-dật-đề.
Thứ 160, giới không mặc tăng kỳ (75) .- Nếu Tỳ kheo ni không mặc tăng kỳ chi mà đi vào làng xóm, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 161, giới tối đến nhà người.- Nếu Tỳ kheo ni sắp tối đến nhà cư sĩ mà trước đó không được mời gọi, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 162, giới tối mở cửa chùa.- Nếu Tỳ kheo ni sắp tối mở cửa chùa đi ra mà không dặn Tỳ kheo ni khác, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 163, giới trời lặn mở cửa.- Nếu Tỳ kheo ni mặt trời lặn rồi, mở cửa chùa đi ra mà không dặn lại ai cả, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 164, giới không có an cư.- Nếu Tỳ kheo ni không tiền an cư, không hậu an cư, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 165, giới truyền giới thường xuất.- Nếu Tỳ kheo ni biết nữ nhân thường xuất đại tiểu mũi giãi, mà vẫn truyền thọ cho cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 166, giới truyền giới hai hình.- Nếu Tỳ kheo ni biết là người hai hình mà vẫn cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 167, giới truyền giới hợp một.- Nếu Tỳ kheo ni biết là người 2 đường hợp một mà vẫn cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 168, giới truyền giới nợ bịnh.- Nếu Tỳ kheo ni biết là người nợ nần, là người bịnh hoạn, mà vẫn cho lãnh thọ cụ túc giới, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 169, giới thuật số để sống (76).- Nếu Tỳ kheo ni học tập thuật số thế tục để tự mưu sinh, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 170, giới chỉ dạy thuật số.- Nếu Tỳ kheo ni đem thuật số thế tục chỉ dạy cho cư sĩ, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 171, giới bị đuổi không đi.- Nếu Tỳ kheo ni bị trục xuất mà không ra đi, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 172, giới không cầu mà hỏi.- Nếu Tỳ kheo ni muốn hỏi nghĩa lý Phật pháp nơi vị Tỳ kheo, trước hết không cầu xin cho phép mà cứ hỏi, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 173, giới chọc tức quấy rối.- Nếu Tỳ kheo ni biết người ở trước mình đến sau, biết người đến sau mình ở trước, muốn quấy rầy người ấy nên ở trước mặt họ mà kinh hành, mà đứng, ngồi, nằm, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 174, giới xây tháp chùa tăng.- Nếu Tỳ kheo ni biết là chùa có Tỳ kheo mà xây tháp cho Tỳ kheo ni ở đó, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 175, giới khinh tân Tỳ kheo.- Nếu Tỳ kheo ni thấy vị Tỳ kheo mới thọ cụ túc giới, lẽ đáng đứng dậy, đón rước, cung kính, lễ bái, hỏi han, mời ngồi; không làm như vậy thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 176, giới đi mà làm dáng.- Nếu Tỳ kheo ni vì làm dáng cho đẹp nên lắc mình rảo bước (77) mà đi, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 177, giới dùng đồ trang sức.- Nếu Tỳ kheo ni dùng (78) đồ trang sức của phụ nữ, dùng hương liệu xoa mình, thì phạm ba-dật-đề.
Thứ 178, giới nhờ ngoại đạo nữ.- Nếu Tỳ kheo ni nhờ nữ nhân ngoại đạo xoa xát hương liệu vào mình, thì phạm ba-dật-đề. Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 178 giới ba-dật-đề. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 178 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 178 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.6 Tám Giới Hối Quá
Bạch chư đại tỷ, 8 giới ba-la-đề-xá-ni – Patidesaniya (79) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Thứ 1, giới không bịnh kiếm tô (80) .- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm sữa tô mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 2, giới không bịnh kiếm dầu.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm dầu mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 3, giới không bịnh kiếm mật.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm mật mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 4, giới không bịnh kiếm đường.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm đường phèn mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 5, giới không bịnh kiếm sữa.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm sữa mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến trước Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 6, giới không bịnh kiếm lạc.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm lạc mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến trước Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 7, giới không bịnh kiếm cá (81) .- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm cá mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi.
Thứ 8, giới không bịnh kiếm thịt.- Nếu Tỳ kheo ni không bịnh, kiếm thịt mà ăn, thì phạm vào cái pháp phải sám hối, đáng khiển trách. Phải đến Tỳ kheo ni khác mà bạch rằng, thưa đại tỷ, tôi phạm vào sự đáng khiển trách, vào việc không đáng làm, nay xin hướng về đại tỷ mà sám hối. Đó gọi là sự hối lỗi. Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 8 giới ba-la-đề-xá-ni. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 8 giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 8 giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.7 Một Trăm Giới Học
Bạch chư đại tỷ, 100 giới phải học – Sekhiya (82) sau đây, cứ mỗi nửa tháng phải tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Thứ 1.- Nên mặc nội y cho tề chỉnh, phải học. Thứ 2.- Nên mặc 5 y cho tề chỉnh, phải học. Thứ 3.- Không được vắt trái y đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 4.- Không được vắt trái y ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 5.- Không được quấn y nơi cổ vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 6.- Không được quấn y nơi cổ ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 7.- Không được trùm đầu vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 8.- Không được trùm đầu ngồi nhà cư sĩ, phải học (83) .
*
Thứ 9.- Không được vừa đi vừa nhảy vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 10.- Không được vừa đi vừa nhảy ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 11.- Không được ngồi xoạc đùi (84) trong nhà cư sĩ, phải học. Thứ 12.- Không được chống nạnh đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 13.- Không được chống nạnh ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 14.- Không được lắc mình đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 15.- Không được lắc mình ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 16.- Không được vung tay đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 17.- Không được vung tay đi vào ngồi nhà cư sĩ, phải học.
*
Thứ 18.- Khéo che mình kín đáo vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 19.- Khéo che mình kín đáo ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 20.- Không được nhìn bên này liếc bên kia đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 21.- Không được nhìn bên này liếc bên kia ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 22.- Yên lặng vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 23.- Yên lặng ngồi nhà cư sĩ, phải học. Thứ 24.- Không được giỡn cười đi vào nhà cư sĩ, phải học. Thứ 25.- Không được giỡn cười ngồi nhà cư sĩ, phải học.
*
Thứ 26.- Chú ý khi ăn (85) , phải học. Thứ 27.- Lấy cơm chỉ ngang miệng bát mà ăn, phải học. Thứ 28.- Cả đồ ăn (86) nữa cũng chỉ lấy ngang miệng bát mà ăn, phải học. Thứ 29.- Đồ ăn và cơm phải lấy tương đương với nhau, phải học. Thứ 30.- Tuần tự mà ăn (87) , phải học. Thứ 31.- Không được moi xốc giữa bát mà ăn, phải học. Thứ 32.- Không bịnh thì không được tự hỏi cơm và đồ ăn cho mình, phải học. Thứ 33.- Không được lấy cơm đậy đồ ăn lại để mong có đồ ăn nữa, phải học. Thứ 34.- Không được liếc xem trong bát Tỳ kheo ni ngồi bên cạnh, phải học. Thứ 35.- Phải để ý nơi bát mà ăn, phải học. Thứ 36.- Không được dồn cơm lớn miếng mà ăn, phải học. Thứ 37.- Không được hả lớn miệng để chờ cơm mà ăn, phải học. Thứ 38.- Không được ngậm cơm mà nói chuyện, phải học. Thứ 39.- Không được nắm cơm ngoài xa ném vào miệng, phải học. Thứ 40.- Không được ăn mà còn sót lại (88) , phải học. Thứ 41.- Không được bung má mà ăn, phải học. Thứ 42.- Không được nhai (88b) ra tiếng mà ăn, phải học. Thứ 43.- Không được hớp cơm mà ăn, phải học. Thứ 44.- Không được le lưỡi liếm mà ăn, phải học. Thứ 45.- Không được rảy tay mà ăn, phải học. Thứ 46.- Không được lượm cơm rơi mà ăn, phải học. Thứ 47.- Không được tay dơ cầm đồ đựng nước uống, phải học. Thứ 48.- Không được đổ nước rửa bát trong nhà cư sĩ, phải học.
*
Thứ 49.- Không được đại tiện tiểu tiện, hỷ nhổ trên cỏ tươi, trừ lúc có bịnh, phải học. Thứ 50.- Không được đại tiện tiểu tiện, hỷ nhổ vào nước sạch, trừ lúc có bịnh, phải học. Thứ 51.- Không được đứng mà đại tiện tiểu tiện, trừ lúc có bịnh, phải học.
*
Thứ 52.- Không được thuyết pháp cho người vắt áo lên vai, không cung kính, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 53.- Không được thuyết pháp cho người quấn áo nơi cổ, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 54.- Không được thuyết pháp cho người che đầu, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 55.- Không được thuyết pháp cho người trùm đầu, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 56.- Không được thuyết pháp cho người chống nạnh, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 57.- Không được thuyết pháp cho người mang dép da, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 58.- Không được thuyết pháp cho người mang guốc gỗ, trừ lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 59.- Không được thuyết pháp cho người cưỡi ngựa, trừ lúc họ có bịnh, phải học.
*
Thứ 60.- Không được ngủ nghỉ trong tháp Phật, trừ ra để coi giữ, phải học. Thứ 61.- Không được cất giấu của cải trong tháp Phật, trừ ra để cho chắc chắn, phải học. Thứ 62.- Không được mang dép da vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 63.- Không được cầm dép da vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 64.- Không được mang dép da đi nhiễu quanh tháp Phật, phải học. Thứ 65.- Không được mang dày ủng vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 66.- Không được cầm dày ủng vào trong tháp Phật, phải học. Thứ 67.- Không được ngồi ăn nơi tháp Phật mà xả rác và Thức ăn làm dơ đất, phải học. Thứ 68.- Không được khiêng thây chết đi qua tháp Phật, phải học. Thứ 69.- Không được chôn thây chết nơi tháp Phật, phải học. Thứ 70.- Không được đốt thây chết nơi tháp Phật, phải học. Thứ 71.- Không được hướng về tháp Phật mà đốt thây chết, phải học. Thứ 72.- Không được đốt thây chết bốn phía tháp Phật để hơi hôi bay vào, phải học. Thứ 73.- Không được mang áo và giường người chết đi qua tháp Phật, trừ ra đã giặt, nhuộm và xông hương, phải học. Thứ 74.- Không được đại tiện tiểu tiện nơi tháp Phật, phải học. Thứ 75.- Không được hướng về tháp Phật mà đại tiện tiểu tiện, phải học. Thứ 76.- Không được đại tiện tiểu tiện bốn phía tháp Phật để hơi thối bay vào, phải học. Thứ 77.- Không được mang ảnh tượng của Phật đến chỗ đại tiện tiểu tiện, phải học. Thứ 78.- Không được ở nơi tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 79.- Không được hướng về tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 80.- Không được bốn phía tháp Phật mà xỉa răng, phải học. Thứ 81.- Không được nơi tháp Phật mà hỉ mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 82.- Không được hướng về tháp Phật mà hỉ mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 83.- Không được bốn phía tháp Phật mà hỉ mũi khạc nhổ, phải học. Thứ 84.- Không được ngồi duỗi chân trước tháp Phật, phải học. Thứ 85.- Không được để tượng Phật ở phòng dưới còn mình ở phòng trên, phải học.
*
Thứ 86.- Người ngồi mà mình đứng thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 87.- Người nằm mà mình ngồi thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 88.- Người ngồi ghế mà mình ngồi chỗ không phải ghế thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 89.- Người ngồi chỗ cao mà mình ngồi chỗ thấp thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 90.- Người đi trước mà mình đi sau thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 91.- Người ở chỗ kinh hành cao mà mình ở chỗ kinh hành thấp thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 92.- Người đi giữa đường mà mình đi lề đường thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học.
*
Thứ 93.- Không được dắt tay nhau mà đi đường, phải học. Thứ 94.- Không được trèo cây cao quá đầu người, trừ trường hợp có lý do, phải học. Thứ 95.- Không được đựng bát vào đãy, xâu vào đầu tích trượng rồi vác trên vai mà đi, phải học.
*
Thứ 96.- Người cầm gậy, không cung kính, thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 97.- Người cầm kiếm thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 98.- Người cầm mâu thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 99.- Người cầm đao thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Thứ 100.- Người che dù thì không được thuyết pháp cho họ, trừ ra lúc họ có bịnh, phải học. Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói các giới phải học. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong các giới ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong các giới ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.8 Bảy Pháp Diệt Tránh
Bạch chư đại tỷ, 7 pháp diệt tránh- Adhikaranasamatha (89) sau đây, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Nếu các Tỳ kheo ni có sự tranh cãi nổi lên thì phải diệt trừ liền. Thứ 1.- Đáng cho hiện tiền tỳ ni thì nên cho hiện tiền tỳ ni. Thứ 2.- Đáng cho ức niệm tỳ ni thì nên cho ức niệm tỳ ni. Thứ 3.- Đáng cho bất si tỳ ni thì nên cho bất si tỳ ni. Thứ 4.- Đáng cho tự nói xử trị thì nên cho tự nói xử trị. Thứ 5.- Đáng cho xét tìm tội tướng thì nên cho xét tìm tội tướng. Thứ 6.- Đáng cho nhiều người xét tìm thì nên cho nhiều người xét tìm. Thứ 7.- Đáng cho như cỏ che đất thì nên cho như cỏ che đất. Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói 7 pháp diệt tránh. Nay xin hỏi chư đại tỷ, trong 7 pháp ấy có thanh tịnh cả không? (Hỏi 3 lần). Bạch chư đại tỷ, trong 7 pháp ấy các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng im lặng. Việc này tôi nắm chắc như vậy.
III.9 Lời Kết Thúc
Bạch chư đại tỷ, tôi đã nói lời nói đầu của Giới kinh, đã nói 8 giới ba-la-di, đã nói 17 giới tăng-già bà-thi-sa, đã nói 30 giới ni-tát-kỳ ba-dật-đề, đã nói 178 giới ba-dật-đề, đã nói 8 giới ba la đề đề xá ni, đã nói 100 giới chúng học, đã nói 7 pháp diệt tránh. Tất cả giới điều như vậy là Giới kinh Phật dạy, cứ mỗi nửa tháng thì tụng một lần, và được rút ra từ trong Giới kinh. Còn những Phật pháp khác nữa thì, với những Phật pháp ấy, hãy chung cùng hòa hợp mà học.
IV. Phần Cuối Tỳ kheo Ni Giới Đức tính nhẫn nhục là đạo bậc nhất, Phật nói vô vi là pháp tối thượng; là người xuất gia mà bức não người, thì không được gọi là bậc sa môn. Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Tỳ-bà-thi, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri. Ví dụ như người có đôi mắt sáng, mới có khả năng tránh đường hiểm nghèo; thế giới mà có những người thông minh, thì có khả năng xa rời điều ác. Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Thi-khí, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri. Không hề phỉ báng cũng không ganh ghét, và hãy kính cẩn tuân hành giới pháp, bằng cách ăn uống cũng biết vừa đủ, thường thường thích thú ở chỗ thanh vắng, tâm trí định tĩnh ưa thích tinh tiến, đó là những điều chư Phật huấn dụ. Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Tỳ-diệp-la, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri. Ví như loài ong hút lấy mật hoa thì không thương tổn sắc hương của hoa mà chỉ hút lấy cái vị mật ngọt, Tỳ kheo cũng vậy đi vào làng xóm thì không can dự công việc người khác, không nhìn đáng làm hay không đáng làm, mà chỉ tự nhìn bản thân mà đi coi có ngay thẳng hay không ngay thẳng. Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Câu-lưu-tôn, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri. Tâm trí không nên có sự phóng dật, pháp của bậc thánh phải siêng học tập; được như thế ấy không còn lo buồn, tâm trí ổn định nhập vào niết bàn. Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Câu-na-hàm mâu-ni, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri. Tất cả điều ác đừng có làm đến, tất cả điều thiện kính cẩn mà làm, tự mình làm sạch tâm trí của mình, những điều như vậy là chư Phật dạy. Bài tụng này là Giới kinh được thuyết ra bởi đức Ca-diếp, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri. Khéo léo mà giữ miệng lưỡi lời tiếng, tự mình làm sạch tâm trí của mình, và thân thể nữa cũng đừng làm ác, đó là đường sạch của cả ba nghiệp; khả năng đạt được đường sạch như vậy chính là đường đi của bậc đại tiên. Bài tụng này là Giới kinh của đức Thích-ca mâu-ni, đấng như lai, đấng vô trước, đấng chánh biến tri, thuyết ra cho chư tăng không có mọi sự tội lỗi trong 12 năm. Từ đó về sau chỉ là phân tích phong phú Giới kinh này.
Chư vị Tỳ kheo ni, những ai ưa thích giáo pháp và ưa thích sa môn, những ai có sự hổ thẹn lấy mình và có sự hổ thẹn với người, ưa thích học giới pháp, thì phải học các Giới kinh này. Những người minh triết giữ được giới pháp, thì thực hiện được ba thứ vui thích, một là danh thơm hai là lợi quí ba là chết rồi sinh lên chư thiên.
Cần phải cứu xét cái điều này đây, mà người có trí nên giữ giới pháp.
Giới mà trong sạch lại có tuệ giác, thì thực hiện được cái đạo bậc nhất.
Tất cả Phật đà trong thì quá khứ cùng chư Thế tôn hiện tại vị lai chiến thắng lo buồn, là do cùng nhau tôn kính giới pháp, và chính điều này là cái nguyên tắc của chư Phật đà.
Nếu có người nào biết tự vì mình mà tìm đường đi của chư Phật đà, thì hãy tôn trọng đối với chánh pháp, đó là huấn thị. của chư Như lai.
Bảy đức Phật đà là đấng Thế tôn, đã trừ diệt hết mọi thứ kiết sử, và đã thuyết ra bảy bản Giới kinh, làm cho giải thoát mọi thứ ràng buộc, làm cho nhập vào niết bàn tối thượng, ở đó vĩnh viễn diệt sạch hý luận.
Tôn trọng tuân hành Giới kinh Phật nói, cùng với giới pháp hiền thánh ca tụng, con em của Phật mà làm như vậy thì sẽ nhập vào niết bàn tịch diệt.
Khi đức Thế tôn sắp nhập niết bàn, Ngài đã nổi dậy lòng thường to lớn, chiêu tập đầy đủ chư vị Tỳ kheo, và dạy như vầy đối với giới pháp: Chư vị đừng nói Như lai nhập diệt thì không ai giữ cho người thanh tịnh; Như lai đã khéo nói ra Giới kinh, Như lai lại khéo nói ra giới pháp, dẫu rằng Như lai nhập vào niết bàn, chư vị hãy coi Giới ấy như Phật. Giới kinh tồn tại lâu dài trong đời, thì Pháp của Phật sẽ được hưng thịnh, và Pháp của Phật mà hưng thịnh lên, thì làm cho người được nhập niết bàn.
Nếu không tuân giữ giới pháp như vầy, và không đúng phép cử hành bố-tát, thì như mặt trời đến lúc lặn mất, cả thế giới này tối tăm mịt mù.
Hãy cố mà giữ giới pháp như vầy, như bò đuôi dài tiếc giữ đuôi nó, bằng cách hòa hợp tập hợp thuyết giới, đúng như Phật đà đã từng huấn dụ.
Tôi đã thành kính tụng lại Giới kinh, chư tăng cũng đã bố-tát hoàn tất.
Tôi tụng giới kinh được bao công đức, nguyện hiến chúng sinh cùng thành Phật đạo.
V. Ghi Chú
(1) Giới kinh ở đây là Tỳ kheo giới bản và Tỳ kheo ni giới bản. Giới kinh ở đây còn có 2 trường hợp nữa. Có trường hợp chỉ cho Tứ phần luật. Có trường hợp chỉ cho mỗi bài tụng của 7 đức Phật nói Giới kinh.
(2) Chính văn là thánh pháp tài (tài sản chánh pháp của các vị thánh), thường nói tắt là thánh tài. Thánh tài có 7 thứ, là tín, giới, tàm, quí, văn, xả, tuệ. Có 7 thứ này thì gọi là thánh nhân (kinh Niết bàn).
(3) Tỳ kheo ni giới có 7 loại: 1. khiắ, có 8; 2. tăng tàn, có 17; 3. xả đọa, có 30; 4. đọa, có 178; 5. hối quá, có 8; 6. học, có 100; 7. diệt tránh, có 7. Chính văn này chỉ đưa ra 3 loại, là nói tắt.
(4) Dịch đúng chính văn là nói việc ấy cho tôi. Chính văn này không chỉnh. Ở đây là các đức Phật đều nói Giới kinh.
(5) Giới luật của dị giáo, ngoại đạo.
(6) Đại khái gửi lời thưa rằng mình cũng muốn bố-tát và trong nửa tháng vừa qua mình không vi phạm giới nào.
(7) Chính văn là thời đáo, có nghĩa đến lúc, đúng lúc, thì gian thích hợp.
(8) Chỉ cho 37 giác phần, đặc biệt chỉ cho 8 chánh đạo trong đó.
(9) Chính văn là trì, có nghĩa nắm giữ trong trí, tức là nhớ, ghi nhận.
(10) Dịch nghĩa là khí (bị bỏ ra ngoài tăng chúng), nhưng chính nghĩa là tha thắng (bị chiến thắng).
(11) Sự dâm dục, Luật gọi là phi phạn hạnh, là bất tịnh hạnh.
(12) Không được cùng tăng chúng kiết-ma và thuyết giới.
(13) Là hẹn chỗ để hành dâm. Chính do sự này mà phạm trọng tội.
(14) 1. Chính văn là phạm tùy cử cố. Dịch như đã dịch mà không tự tín chính xác. 2. Từ giới thứ 5 xuống đến giới này có sự bất thường. Là cuối mỗi giới có thêm 1 câu. Những câu này quả là không cần thiết, nên bản Nguyên chiếu lược bỏ.
(15) Dịch nghĩa là tăng tàn, là phạm những tội này còn có thể cứu vãn được nếu biết sám hối trước 40 vị Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, không thì cũng như phạm tội ba-la-di.
(16) Loại tăng tàn của Tỳ kheo ni có sự bất thường. Là trong 17 giới, 9 giới trước ghi thêm sơ pháp ưng xả, 8 giới sau ghi thêm tam pháp ưng xả. Trùng trị cắt nghĩa sơ pháp là mới làm là phạm (nói cách khác, mới phạm là thành tội), ưng xả là phải bỏ mà đừng phạm; tam pháp là can gián đến lần thứ 3 mà không bỏ mới là phạm (nói cách khác, sau 3 lần can gián mới thành tội), ưng xả cũng là phải bỏ mà đừng phạm. Sơ pháp với tam pháp, cắt nghĩa như vậy là chính xác, còn ưng xả thì không rõ cắt nghĩa như vậy có chính xác không. Vì 2 câu này chỉ có Trùng trị cắt nghĩa, nên tôi dịch theo sách ấy.
(17) Chính văn là chủng tánh (dòng họ, giai cấp, thành phần xã hội).
(18) Nhiễm thực là thức ăn xuất từ nhiễm tâm (tâm ô nhiễm: tâm dâm dục).
(19) Đủ thì phải nói phá hoại tăng hòa hợp mà còn chống lại sự can gián. Tăng hòa hợp là 4 vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni sắp lên, cùng kiết-ma và cùng tụng giới.
(20) Là cùng học đức Phật bổn sư: đức Thích-ca.
(21) Đủ thì phải nói hỗ trợ phá tăng hòa hợp mà còn chống lại sự can gián.
(22) Đủ thì phải nói làm hoen ố tín đồ mà còn chống lại sự can gián.
(23) Làm hoen ố tín đồ, chính văn là ô tha gia (làm bẩn người khác). Ô tha gia có 4 hình thức mà đứng đầu là đem vật của người này cho mà cho lại người khác, làm cho tâm lý người nào cũng không còn bình thường. Làm những việc xấu là những việc xấu dẫn ra từ sự ô tha gia.
(24) Hoan hỷ, chính văn là “ma-na-đỏa”, dịch nghĩa là ý hỷ. Ý hỷ là ở sát cạnh chư ni, chân thành ân hận, làm cho chư ni hoan hỷ mà mình cũng hoan hỷ.
(25) Chính văn chỉ có Tỳ kheo ni. Như vậy là không chỉnh, nên phải bổ túc Tỳ kheo.
(26) Trường hợp, chính văn là thời. Tra 4 bộ Luật khác mới biết chữ ấy, ở đây và nhiều chỗ sau đây, có nghĩa là trường hợp.
(27) Dịch nghĩa là xả đọa, là xả thí những vật dụng dư thừa rồi sám hối, nếu không thì sẽ bị đọa lạc ác đạo.
(28) Y công đức (ca-thy-na y) là y được xét thưởng sau 3 tháng an cư thanh tịnh. Ai được xét thưởng thì có 5 tháng (16/7 đến 15/12) được hưởng 5 sự mà Luật đã định.
(29) Trường y (y dài) là dài bằng 8 ngón tay và rộng bằng 4 ngón tay của Phật. Vạn 70/346 nói trường y là y dư thừa, hễ vải dài 1 thước 6, rộng 8 tấc, thì đã gọi là trường y.
(30) Tịnh thí nghĩa là cho một cách trong sạch. Tịnh thí ở đây là Tỳ kheo ni có thừa những vật dụng (như y, bát, v/v) thì phải thí xả. Có 2 cách tịnh thí. Một là chân thật tịnh thí, là đem vật dụng thừa ra giữa chư tăng mà thí xả cho người khác. Hai là triển chuyển tịnh thí, là thí xả giữa chư tăng mà nói tên người mình muốn cho. Nếu người ấy vắng mặt thì chư tăng nói : Đại tỷ đã cho người ấy rồi thì đó là vật của người ấy ; đại tỷ nên cất giữ giúp người ấy, và nếu cần thì mượn mà dùng.
(31) 5 y là An-đà-hội, Uất-đa-la-tăng, Tăng-già-lê, tăng-kỳ-chi, phú-kiên ; 5 y là của Tỳ kheo ni dùng. Cũng nên biết chữ Y trong Luật có khi chỉ cho y, có khi chỉ cho áo, quần, khăn v/v, có khi chỉ cho vải.
(32) Kiết-ma, dịch nghĩa là tác pháp biện sự. Việc gì của tăng cũng phải do cả tăng quyết định mới thành tựu, đó gọi là kiết-ma. Kiết-ma có đan bạch, bạch nhị và bạch tứ. Đan bạch là gặp những việc quá thường xuyên thì chỉ cần 1 lần tuyên cáo (tác bạch, bạch) mà thôi, không cần hỏi lại. Bạch nhị là gặp những việc hơi quan trọng, sợ xảy bất đồng ý về sau, nên phải 1 lần tuyên cáo rồi hỏi lại 1 lần. Bạch tứ là gặp những việc quan trọng thì phải 1 lần tuyên cáo rồi hỏi lại 3 lần. Tăng kiết-ma có 4 loại, đó là 4 vị cho đan bạch, 5 vị cho bạch nhị, 10 vị cho bạch tứ, 20 vị hay 40 vị cho sự xử tội tăng tàn. Số lượng này nhiều hơn thì được, thiếu đi thì không được.
(33) Đáng lẽ phải nói 5 y có cái cũ và hỏng. Nguyên do của giới này là vì có Tỳ kheo ni y Tăng già lê bị cũ và hỏng.
(34) Lời xin tùy ý là thí chủ có lời xin nói trước rằng người nhận lãnh muốn sao cũng được.
(35) Chính văn là khẩu khả thọ, dịch nhận lấy bằng cách miệng nói được, là theo Danh nghĩa (Vạn 70/347).
(36) Đáng lẽ giới này nên nói đổi chác (mậu) thì đúng hơn, vì bán mua thì là giới thứ 11.
(37) Chính văn là muội.
(38) Dịch sát là 10 ngày chưa hết của 3 tháng kiết hạ an cư ; 10 ngày ấy là 6/7 đến 15/7.
(39) Thì hạn của y ấy, y ấy là y cúng vội vàng nói trên, thì hạn của y ấy là 1 tháng (16/7 đến 15/8) nếu không thọ công đức y, hoặc 5 tháng (16/7 đến 15/12) nếu có thọ công đức y.
(40) Giới này đến giới 23 rõ ràng có thể làm 1 giới thôi. Phải dịch rất sát tên giới, là để thấy khác nhau.
(41) Trường bát, có ý kiến nói là bát dư thừa.
(42) Bịnh y ở đây là vải dùng lúc hành kinh.
(43) Thời y và phi thời y. Y đây cũng có thể là vải. Coi giới thứ 3 thì biết. Thời y (y đúng thời) là y có trong thì gian 1 tháng (16/7-15/8) hoặc 5 tháng (16/7-15/12). Phi thời y (y trái thời) là y có trong thì gian không phải thì gian của thời y.
(44) Tấm ở đây nhỏ thì rộng 2 khuỷu tay, lớn thì bằng y ca sa (Vạn 70/348). Áo dày là áo chống lạnh.
(45) Áo mỏng cũng nên dịch áo nhẹ, là áo chống nóng.
(46) Ba-dật-đề dịch nghĩa là đọa, là phạm những giới này nếu không sám hối giữa chư tăng thì sẽ bị đọa lạc.
(47) Coi lại ghi chú 17.
(48) 5, 6 lời, cũng có thể dịch là pháp số 5 (như nói 5 uẩn vô ngã) và pháp số 6 (như nói 6 thức vô thường).
(49) Cây cối là chỗ ở của quỉ thần và sinh vật, nên những chữ chặt phá cây cối và sinh vật là bổ túc.
(50) Giường giây là lòng giường đan sợi mây hay bất cứ sợi gì. Có chỗ giường giây là võng.
(51) Không phải giờ ăn (phi thời) là kể từ xế bóng ngày trước cho đến ngày sau trời chưa sáng.
(52) Dịch rõ là thức ăn mà mình không hay chưa nhận lời mời, hoặc thuốc cũng không hay chưa nhận lời mời, mà đã bỏ vào miệng.
(53) Bữa ăn trước là trời sáng cho đến giờ ngọ, bữa ăn sau là giờ ngọ.
(54) Nhà ăn (thực gia) và vật báu ở đây có cái nghĩa riêng ở đây, không phải cái nghĩa thông thường. Nghĩa thông thường thì nhà ăn là nhà mời ăn, vật báu là vàng ngọc (hoặc nói bóng người đẹp). Nhưng nghĩa ở đây thì nhà là nhà có chồng vợ, ăn là chồng vợ ấy hành dâm hưởng lạc với nhau (và vật báu có thể chỉ có nghĩa là trong nhà ấy có chỗ cho chồng vợ hành dâm). Trong nhà ăn có vật báu như vậy mà họ mời ăn rồi không đi ngay thì rất chướng ngại cho họ, nhất là cho người chồng.
(55) Dịch rõ là khơi lại 4 sự tranh cãi. Sự tranh cãi có 4, đó là 1, ngôn tranh, là tranh cãi vì bàn luận giới pháp; 2, mích tranh, là tranh cãi vì xoi bói tội lỗi ; 3, phạm tranh, là tranh cãi về tội lỗi đã phạm; 4, sự tranh, là tranh cãi về công việc kiết-ma. Cả 4 sự tranh cãi đều phải diệt bằng 7 cách diệt tránh. Khi kiết-ma diệt tránh rồi mà ai còn khêu gợi lại thì phạm ba-dật-đề.
(56) Đâu la là bông của mọi thứ cây cỏ, trong đó có bông gòn, bông vải, và kén tằm hoang.
(57) Đúng chính văn thì chỉ nói tỏi. Nhưng thật ra là nói 5 vị tân. Nên phải dịch các thứ tỏi.
(58) Tác tịnh ở đây là làm vệ sinh bộ phận sinh dục. Đặt giới hạn như vậy là phòng tự kích thích, phòng thói thủ dâm.
(59) Xin lúa, mè, gạo, đậu, v/v. Ấy là nói sự xin xỏ không chán, không biết xấu hổ.
(60) Và các trò chơi khác. Kỷ nhạc là diễn tấu nhạc khí, là hòa nhạc; có chỗ kỷ nhạc là diễn kịch hòa nhạc.
(60b) Chính văn là bất sinh Phật pháp trung. Không sinh trong Phật pháp là không sinh vào trong gia đình tin Phật, không sống trong Phật pháp bằng cách xuất gia hay tại gia.
(61) Như trời lạnh mà chỉ có 1 chăn.
(62) Như vì việc của Tam bảo, vì việc của Tỳ kheo ni bịnh, thì kiết hạ an cư cũng được tác pháp xuất giới 7 ngày.
(63) Vì tín đồ vốn chỉ xin cúng dường mùa an cư mà thôi.
(64) 6 nạn là không có kéo, kim, chỉ, vải không đủ, chủ y phá giới, tính mạng bị nạn.
(65) 5 ngày coi sóc 1 lần.
(66) Vì đui, điếc, còng, què, v/v.
(67) Là 10 năm sau khi xuất gia và 2 năm Thức-xoa. Không phải 12 năm là năm sinh. (Trùng trị, Vạn 63/300A).
(68) Dâm nữ, tư thông, v/v.
(69) Là giáo pháp và cơm áo.
(70) Chính văn nói 12 năm, nhưng chính trong Tứ phần luật thì nói 1 năm, hay nói 12 tháng. Như vậy có thể suy ra mỗi năm độ 1 người là nhiều rồi.
(71) Dịch đủ thì còn cá và thịt. Nhưng đó là tùy thí tùy thực (cho gì ăn nấy), nên ở đây phải lược.
(72) Chính văn là gia. Theo cước chú của Vạn 64/102 thì là nhà của thí chủ. Nhưng cước chú của Tỳ kheo ni giới kinh thì gia ở đây đọc là cô (thái cô), nghĩa là bà thầy. Xét lý do của giới này (Tứ phần, Chính 22/768) thì nghĩa thầy đúng hơn. Lý do của giới này là Tỳ kheo ni An ổn có 1 đệ tử là Tỳ kheo ni Đề-xá. Hai thầy trò đến nhà thí chủ cũ. Thí chủ thấy An ổn y phục tề chỉnh, oai nghi hoàn hảo, nên hoan hỷ cúng dường. Về chùa, An ổn nói với Đề-xá, rằng thí chủ này tín tâm chân thành, cúng dường hảo ý. Đề-xá có ý ganh ghét, nói thí chủ tín tâm chân thành, cúng dường hảo ý, là cúng dường cho thầy!
(73) Vạn 64/102 nói mè đây là chi ma.
(74) Chính văn là chủ khỏa y, tức quần cụt, quần đùi, quần lót, mà may lụa, độn dày, đính đồ đẹp. Mặc để làm đẹp hạ thể. Bị cấm dùng. Nếu có bịnh thì mặc bịnh y rồi mặc quần.
(75) Nói đủ là tăng kỳ chi, là áo lót che nách, ngực và eo.
(76) Thuật số ở đây, và ở dưới đây, chính văn là kỹ thuật. Chữ này không chỉnh, vì ở đây là nói chú thuật, lý số, và đó là tà mạng nên Luật cấm.
(77) Tra cứu Tứ phần (Chính 22/777) và Trùng trị (Vạn 63/303), thì lắc mình rảo bước (dao thân xu hành) có thể hiểu đi mà nhún nhảy. Coi phần khai của giới này thì đủ để hình dung. Phần ấy nói hoặc vốn có bịnh như vậy, v/v, hoặc muốn làm cho y áo tề chỉnh, nên nhìn phải nhìn trái, ngoái mình mà nhìn, không phạm.
(78) Chính văn là tác, vừa có nghĩa sử dụng, vừa có nghĩa sắm sửa. Ở đây có cả 2 nghĩa, mà nghĩa sử dụng nhiều hơn, còn nghĩa sắm sửa thì là giới 157.
(79) Dịch nghĩa là hướng bỉ hối, là những giới điều mà phạm vào chỉ cần sám hối với 1 Tỳ kheo ni.
(80) Danh nghĩa (Vạn 70/273) nói từ bò mà ra là nhủ, từ nhủ mà ra là lạc, từ lạc mà ra là sanh tô, từ sanh tô mà ra là thục tô, từ thục tô mà ra là đề hồ. Đó là nói về sữa bò và 4 cách chế biến về sữa ấy. Bốn cách này khó dịch và biết cho rõ, vì xưa khác nay khác, xứ khác, tên khác. Nên ở đây tôi để nguyên chữ tô và chữ lạc, và gọi là sữa tô, sữa lạc.
(81) Coi lại ghi chú 71. Nhưng ở đây không thể lược bỏ.
(82) 1. Như đã nói trong lời tựa, 100 giới này tôi không dịch tên. 2. 100 giới này hoàn toàn y như Tỳ kheo giới, chỉ có không hơn vài chỗ khác chữ mà cùng nghĩa.
(83) Xuống dòng như vậy là có ý sắp loại các giới điều này.
(84) Chính văn là tôn tọa. Tôn, các bản ghi chú đều nói là ngồi mà tiếng thông tục của ta gọi là ngồi chỏ hỏ. Nhưng từ điển nói là ngồi xoạc đùi. Tôi chọn nghĩa này.
(85) Để khỏi rơi đồ ăn xuống.
(86) Chính văn là canh, nhưng rõ ràng chữ ấy ở đây là đồ ăn, chứ không phải chỉ là canh như thường nói. Do vậy chữ canh ấy được dịch là đồ ăn.
(87) Chú thích: ăn không tuần tự là ngay trong bát mà đã lấy ăn lung tung.
(88) Dịch theo chú thích là một nửa vào miệng, một nửa còn lại nơi tay.
(88b) Dịch đủ là nhai cơm. Nhưng đủ mà thiếu. Bất cứ nhai gì cũng không được ra tiếng, không phải chỉ nhai cơm.
(89) Là 7 cách diệt trừ sự tranh cãi. Bảy cách này, nếu chư ni có sự tranh cãi (coi ghi chú 55) thì phải dập tắt bằng 7 cách ấy. Nói đại khái và giản dị, thì một thành phần chư ni có lỗi, nhất là lỗi gây ra tranh cãi, thì hãy diệt tranh cãi ấy bằng cách cho hiện diện (1), cho nhớ lại (2), cho tỉnh trí (3), cho tự xử (4), cho tự xét (5), cho chung xét (6), cho qua loa (7). Nghĩa là bằng cách nào đó có lý có tình mà đem lại sự phục thiện và hoan hỷ là tốt. Giới của 7 cách này là sau khi diệt tránh bằng 7 cách rồi, ai còn khơi lại thì phạm tội và bị trị.
Ký hiệu:
– Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu. Ký hiệu là Chính, thí dụ Chính 1/100, là Đại tạng ấy, tập 1, trang 100. Mỗi trang có 3 khoảng trên giữa dưới, nhưng sách này không ghi rõ khoảng ấy và dòngchữ.
– Tục tạng kinh bản chữ Vạn. Ký hiệu là Vạn, thí dụ Vạn 1/100 là Tục tạng ấy, tập 1 tờ 100. Mỗi tờ có 2 mặt a và b, mỗi mặt có 2 khoảng trên dưới, nhưng sách này cũng không ghi rõ những chi tiết ấy.
– Phật học đại từ điển của Đinh Phước Bảo. Ký hiệu là Bảo, thí dụ Bảo 100, là đại từ điển ấy, trang 100. Mỗi trang có 3 khoảng trên giữa dưới, và dĩ nhiên có từ. Nhưng sách này cũng không ghi những chi tiết ấy.
– Phật học nghiên cứu thập bát thiên, của Lương Khải Siêu. Sách có 18 bài. Ký hiệu là Siêu, thí dụ Siêu 1/10, tức sách ấy, bài 1 trang 10.
NAM MÔ THẬP PHƯƠNG THƯỜNG TRỤ TAM BẢO Nguyện đem công đức này Hướng về khắp tất cả Đệ tử và chúng sanh Đều trọn thành Phật đạo.